Tạp chí Quy hoạch xây dựng https://vjol.info.vn/qhdt <p>Tạp chí Quy hoạch xây dựng là cơ quan ngôn luận của ngành Xây dựng về lĩnh vực quy hoạch và phát triển đô thị.</p> vi-VN Tạp chí Quy hoạch xây dựng 1859-3054 Mục lục https://vjol.info.vn/qhdt/article/view/137010 <p>Mục Lục</p> BTV Bản quyền (c) 2026-02-25 2026-02-25 138 1 1 3 Quyền phát triển không gian và đánh giá giá trị cảnh quan trong quy hoạch đô thị và nông thôn https://vjol.info.vn/qhdt/article/view/137015 <p>Quyền phát triển không gian - tức là quyền sử dụng, chuyển nhượng và khai thác không gian lãnh thổ cho mục đích phát triển - đang trở thành khái niệm trung tâm trong quy hoạch hiện đại. Ở nhiều quốc gia phát triển, quyền này được xem như một công cụ pháp lý giúp Nhà nước kiểm soát việc sử dụng đất, điều tiết lợi ích công - tư, và bảo vệ tài nguyên không gian. Tuy nhiên, tại Việt Nam, khái niệm “quyền phát triển không gian” mới chỉ được nhắc đến gián tiếp thông qua các cơ chế chuyển đổi mục đích sử dụng đất hay cấp phép đầu tư xây dựng. Điều này dẫn đến thực tế là nhiều dự án đô thị được triển khai mà không có sự đánh giá đồng bộ giữa giá trị cảnh quan, năng lực không gian và quyền phát triển được cấp phép. Bài viết này nhằm: Phân tích cơ sở lý luận của quyền phát triển không gian và giá trị cảnh quan; Làm rõ mối quan hệ giữa hai khái niệm trong quy hoạch đô thị - nông thôn; Minh họa thông qua các ví dụ quốc tế và Việt Nam; Đề xuất định hướng tích hợp hai yếu tố trong khung pháp lý và quy hoạch quốc gia nhằm hướng tới phát triển bền vững.</p> <p>Spatial development rights-defined as the rights to use, transfer, and exploit territorial space for development-are emerging as a core construct in contemporary planning. In many developed countries, such rights operate as legal instruments that enable the state to steer land use, balance public-private interests, and safeguard spatial resources. In Vietnam, however, the notion remains largely implicit, appearing mainly through land-use conversion and construction licensing procedures. As a result, numerous urban projects proceed without coherent assessment across three interlinked dimensions: landscape value, spatial <br>carrying capacity, and the scope of development rights granted. This paper (i) articulates the theoretical underpinnings of spatial development rights and landscape valuation, (ii) elucidates their relationship in urban-rural planning, (iii) demonstrates applications through international and Vietnamese case studies, and (iv) proposes pathways to integrate both dimensions into national legal and planning frameworks oriented toward sustainable development.</p> Văn Minh Nguyễn Bản quyền (c) 2026-02-25 2026-02-25 138 1 6 11 Bàn về vai trò của quyền không gian trong phát triển đô thị Việt Nam https://vjol.info.vn/qhdt/article/view/137022 <p>Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh và chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, không gian đô thị ở Việt Nam không còn có thể được tiếp cận như một bề mặt hai chiều đơn giản gắn với thửa đất. Thực tiễn phát triển đã và đang vận hành trên cơ sở khai thác không gian ba chiều, bao gồm không gian trên cao, không gian ngầm và các dạng không gian chức năng chồng lớp - trong khi hệ thống pháp luật và phương pháp quản lý vẫn chủ yếu dựa trên logic đất đai 2D. Bài viết này luận giải sự tồn tại khách quan của quyền không gian như một dạng quyền tài sản phái sinh nhưng có tính độc lập tương đối, phân tích những bất cập của khung pháp lý hiện hành khi chưa chính danh hóa quyền không gian, đồng thời làm rõ các lợi ích kinh tế, xã hội, quản trị nếu quyền không gian được thể chế hóa. Trên cơ sở tổng hợp kinh nghiệm quốc tế và kết quả nghiên cứu khoa học, bài viết đề xuất các định hướng hoàn thiện chính sách và một lộ trình thể chế hóa quyền không gian phù hợp với điều kiện Việt Nam.</p> <p>In the context of rapid urbanization and a shift toward intensive growth models, urban space in Viet Nam can no longer be approached as a simple two-dimensional land surface. Contemporary urban development increasingly operates through the exploitation of three-dimensional space, including above-ground space, underground space, and layered functional spaces, while the legal framework and management practices remain largely grounded in a two-dimensional land-based logic. This paper argues that spatial rights exist objectively as a derivative form of property rights with a degree of relative autonomy from land-use rights. It examines the limitations of the current legal framework resulting from the absence of formal recognition of spatial rights, and analyzes the potential economic, social, and urban governance benefits of institutionalizing such rights. Drawing on international experience and the findings of scientific research, the paper proposes policy directions and a phased roadmap for the institutionalization of spatial rights that is compatible with the conditions of Viet Nam.</p> Xuân Anh Nguyễn Bản quyền (c) 2026-02-25 2026-02-25 138 1 12 17 Chuyển nhượng quyền phát triển cho khu vực cải tạo theo mô hình ToD một chiều hay đa chiều? https://vjol.info.vn/qhdt/article/view/137028 <p>Bài viết thảo luận việc áp dụng công cụ TDR cho các khu vực đô thị cải tạo gắn với phát triển đường sắt đô thị theo mô hình TOD. Từ tổng kết kinh nghiệm quốc tế, đánh giá bối cảnh và điều kiện phát triển trong khung thể chế hiện hành, tác giả đề xuất lộ trình triển khai áp dụng công cụ TDR tại TP.HCM theo hai bước từ một chiều đến đa chiều phù hợp với ưu tiên về huy động nguồn lực cho phát triển, năng lực quản lý, điều kiện pháp lý hiện hành và thị trường quyền phát triển còn ở giai đoạn sơ khai.</p> <p>The article discusses the application of the TDR tool in the urban renewal/redevelopment areas in the TOD model. Author reviewed lessons learnt from chosen international experience, assessed Viet Nam development context with special features of institutional frameworks to propose a two step for the implementation of the TDR and other combined tool in Ho Chi Minh City. The concept of one way and multi way has been discussed to reflect current priorities of resource mobilization for urban rail development, legal conditions, and the management capacity in pre-mature development rights market.</p> Ngọc Hiếu Nguyễn Bản quyền (c) 2026-02-25 2026-02-25 138 1 18 21 Giới thiệu về bộ chỉ số đánh giá giá trị kinh tế cảnh quan áp dụng cho quy hoạch và phát triển đô thị https://vjol.info.vn/qhdt/article/view/137031 <p>Bài báo trình bày sự cần thiết và phương pháp luận xây dựng Bộ chỉ số đánh giá giá trị kinh tế cảnh quan (LEVA Index) phục vụ quy hoạch và phát triển đô thị. Trong khi phương pháp LEVA đã xác lập cách tiếp cận <br>đánh giá kinh tế cảnh quan như một loại vốn phát triển, việc triển khai trên thực tiễn đòi hỏi một hệ thống tiêu chí, chỉ tiêu và chỉ số có khả năng đo lường, so sánh và giám sát giá trị cảnh quan theo thời gian. Bài viết đề xuất khung lĩnh vực của bộ chỉ số, bao gồm: tổng tài khoản cảnh quan địa phương, hiệu suất kinh tế cảnh quan, tốc độ tăng trưởng kinh tế cảnh quan, thời điểm chuyển đổi công nghệ khai thác cảnh quan, quy mô tối ưu của đô thị và giá trị bất động sản cảnh quan theo phương pháp giá hưởng thụ. Thông qua khung chỉ số này, LEVA có thể trở thành công cụ định lượng giúp các bên liên quan đánh giá các phương án phát triển, nhận diện rủi ro suy giảm vốn cảnh quan và tối ưu hóa lợi ích kinh tế - xã hội dựa trên chất lượng cảnh quan. Bộ chỉ số LEVA Index vì thế đóng vai trò cầu nối giữa khoa học cảnh quan, kinh tế học và quản lý đô thị, tạo nền tảng cho quy hoạch dựa vào cảnh quan trong phát triển bền vững.</p> <p>This Article introduces LEVA (Landscape Economic Value Assessment) as a methodological framework for quantifying the economic role of landscape and integrating it directly into urban planning. Unlike existing tools <br>such as SEA, SA or urban economic analysis, which do not fully capture the hybrid natural-cultural-experiential nature of landscape, LEVA focuses on landscape as a form of development capital. The paper clarifies LEVA’s principles, methodological structure and its three-level application pathway at the city, sub-area and project scales. LEVA combines qualitative assessments from planning and landscape architecture with quantitative estimation from landscape economics, enabling dynamic comparison across time and between alternative development scenarios. The study argues that integrating LEVA can transform landscape into an explicit decision variable, improving economic performance, enhancing ecological resilience, and strengthening urban identity. LEVA thus provides a foundation for future landscape-based approaches to urban planning.</p> Xuân Anh Nguyễn Bản quyền (c) 2026-02-25 2026-02-25 138 1 22 25 Khung đánh giá chất lượng vi khí hậu cho đơn vị đô thị nén áp dụng cho các trường hợp tại thành phố hà nội qua các thời kỳ phát triển đô thị https://vjol.info.vn/qhdt/article/view/137034 <p>Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh chóng và xu hướng phát triển đô thị nén tại Việt Nam, các vấn đề về vi khí hậu đô thị ngày càng trở nên cấp thiết, đặc biệt đối với các đơn vị ở và đơn vị xây dựng mật độ cao tại các đô thị lớn như Hà Nội. Quá trình chuyển đổi từ các tiểu khu xây dựng trong giai đoạn bao cấp sang các khu đô thị mới cao tầng và khu tái thiết nén cao đã làm thay đổi đáng kể hình thái không gian, cấu trúc cây xanh - mặt nước và điều kiện tiện nghi nhiệt của không gian ngoài trời. Bài viết đề xuất một khung đánh giá chất lượng vi khí hậu cho đơn vị đô thị nén (ĐVĐTN), tập trung vào ba nhóm tiêu chí chính gồm bức xạ nhiệt, thông gió tự nhiên và điều kiện nhiệt. Khung đánh giá được xây dựng trên cơ sở tổng hợp các nghiên cứu lý thuyết về vi khí hậu đô thị và thiết kế đô thị thích ứng khí hậu, đồng thời điều chỉnh phù hợp với điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa và thực tiễn quy hoạch đô thị tại TP Hà Nội, Việt Nam. Phương pháp đánh giá bán định lượng theo thang điểm 0-5 được áp dụng cho bảy trường hợp nghiên cứu tiêu biểu tại thành phố Hà Nội, đại diện cho các giai đoạn và mô hình phát triển đô thị khác nhau. Kết quả nghiên cứu cho thấy các tiểu khu truyền thống có chất lượng vi khí hậu tương đối cân bằng nhờ cấu trúc không gian mở và mật độ xây dựng vừa phải, trong khi nhiều khu đô thị nén cao và khu tái thiết còn tồn tại hạn chế về thông gió tự nhiên và tiện nghi nhiệt ở cấp độ người đi bộ. Từ đó, bài viết đưa ra các khuyến nghị đề xuất đối với công <br>tác quy hoạch, thiết kế đô thị và chính sách, góp phần cụ thể hóa yêu cầu phát triển đô thị bền vững và thích ứng biến đổi khí hậu theo chủ trương của Đảng, Chính phủ và pháp luật về Quy hoạch đô thị và nông thôn mới ban hành.</p> <p>In the context of rapid urbanization and the trend of compact urban development in Vietnam, issues of urban microclimate are becoming increasingly urgent, especially for high-density residential and urban units in large cities like Hanoi. The transition from sub-districts built during the subsidy period to new high-rise urban areas and high-density reconstruction areas has significantly altered spatial morphology, green space and water features, and thermal comfort conditions of outdoor spaces. This paper proposes a framework for assessing the quality of microclimate in compact urban units, focusing on three main criteria groups: Thermal radiation, natural ventilation, and thermal conditions. The evaluation framework is based on a synthesis of theoretical studies on urban microclimate and climate-adaptive urban design, while being adapted to the tropical monsoon climate and urban planning practices in Hanoi, Vietnam. A semi-quantitative evaluation method using a 0-5 scale was applied to seven representative case studies in Hanoi, representing different stages and models of urban development. The research results show that traditional sub-districts have relatively balanced microclimate quality due to their open spatial structure and moderate building density, while many high-density urban areas and redevelopment zones still have limitations in natural ventilation and thermal comfort at the pedestrian level. From there, the article offers recommendations and proposals <br>for urban planning, design, and policy, contributing to the concretization of the requirements for sustainable urban development and climate change adaptation in accordance with the Party and Government’s guidelines and the newly enacted laws on urban and rural planning.</p> Kiều Thanh Lê Bản quyền (c) 2026-02-25 2026-02-25 138 1 26 31 Đánh giá giá trị cảnh quan trong quy hoạch nông thôn https://vjol.info.vn/qhdt/article/view/137039 <p>Trong bối cảnh đô thị hóa và hiện đại hóa đang diễn ra mạnh mẽ, cảnh quan nông thôn Việt Nam đang thay đổi từng ngày. Chương trình xây dựng “Nông thôn mới” đã mang lại hạ tầng khang trang nhưng đồng thời cũng đặt ra những thách thức lớn về sự mất mát bản sắc và suy giảm chất lượng môi trường sống. Trong bức tranh đó, không gian cảnh quan không đơn thuần là “phần nền” hay yếu tố trang trí, mà đóng vai trò then chốt trong việc định hình sự phát triển bền vững. Quy hoạch nông thôn thành công không chỉ là bê tông hóa đường làng, mà là việc gìn giữ, tôn tạo và phát huy giá trị của không gian cảnh quan như một nguồn tài nguyên quý giá.</p> <p>In the context of rapid urbanization and modernization, the rural landscape of Vietnam is changing daily. The “New Rural Development” program has brought about improved infrastructure but also poses significant <br>challenges regarding the loss of identity and the decline in the quality of the living environment. In this picture, them landscape space is not simply a “backdrop” or decorative element, but plays a crucial role in shaping sustainable development. Successful rural planning is not just about paving village roads with concrete, but about preserving, enhancing, and promoting the value of the landscape space as a precious resource.</p> Vũ Hồng Sơn, Trần Trung Hiếu Bản quyền (c) 2026-02-25 2026-02-25 138 1 32 37 50 Năm chuyển hóa không gian cư trú nông thôn việt nam từ làng truyền thống đến điểm dân cư thời kỳ hội nhập https://vjol.info.vn/qhdt/article/view/137044 <p>Kỷ niệm 50 năm thống nhất đất nước là dịp nhìn lại các chuyển biến quan trọng trong tiến trình phát triển quốc gia, trong đó không gian cư trú nông thôn (KGCTNT) giữ vai trò đặc biệt, vừa là nơi lưu giữ bản sắc văn hóa dân tộc, vừa là môi trường sống của phần lớn dân số trong suốt quá trình hiện đại hóa đất nước. KGCTNT không chỉ là tập hợp các cụm kiến trúc, hạ tầng phục vụ sản xuất và sinh hoạt mà còn là một hệ sinh thái nhân văn tổng thể, nơi kết nối giữa cộng đồng cư dân, cảnh quan tự nhiên, tập quán sản xuất và tín ngưỡng bản địa. Mỗi giai đoạn phát triển đều để lại những dấu ấn không gian đặc thù, phản ánh rõ bối cảnh lịch sử, thể chế quản lý, trình độ và mô hình phát triển nông thôn đương thời.</p> <p>Bài viết tiếp cận quá trình chuyển hóa KGCTNT từ góc nhìn lịch sử - vùng miền, nhằm nhận diện các yếu tố ổn định, biến động và mai một trong cấu trúc không gian. Từ đó gợi mở quan điểm và một số nguyên tắc định hướng KGCTNT thời kỳ 2025-2045 theo tư duy hệ sinh thái nhân văn, bản địa hóa và lấy cộng đồng làm trung tâm, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, thích ứng BĐKH, chuyển đổi số và gìn giữ căn tính văn hóa nông thôn.</p> <p>The 50th anniversary of national reunification is an opportunity to look back at the significant changes in the process of national development, in which rural living spaces play a special role, serving both as repositories of national cultural identity and as the living environment for the majority of the population throughout the country’s modernization process. Rural living spaces are not only a collection of architectural and infrastructure clusters serving production and daily life, but also a comprehensive human ecosystem, connecting the community, natural landscape, production practices, and indigenous beliefs. Each stage of development leaves behind distinctive spatial imprints, clearly reflecting the historical context, management institutions, level, and model of rural development at the time.</p> <p>This article approaches the transformation of rural residential spaces from a historical and regional perspective, aiming to identify the stabilizing, fluctuating, and deteriorating elements within the spatial structure. From this, it suggests viewpoints and some guiding principles for rural residential space development in the period 2025-2045, based on a humanistic ecosystem thinking, localization, and community-centered approach, meeting the requirements of sustainable development, climate change adaptation, digital transformation, and preserving rural cultural identity.</p> Thị Nhâm Phạm Bản quyền (c) 2026-02-25 2026-02-25 138 1 38 45 Các xu hướng ứng xử và thực hành truyền thống trong quy hoạch kiến trúc nông thôn https://vjol.info.vn/qhdt/article/view/137048 <p>Quy hoạch kiến trúc nông thôn hiện nay chưa thực sự được quan tâm đầy đủ, hầu như trở nên tự phát, ít được hướng dẫn về cả mặt quy hoạch, kiến trúc lẫn thẩm mỹ, trên cả phương diện lý luận lẫn thực hành, thiếu định hướng, thể hiện qua nhận xét là “sự cắt đứt phũ phàng với quá khứ”. Theo Chỉ thị số 04/CT-TTg ngày 07/02/2023 về định hướng phát triển quy hoạch kiến trúc nông thôn Việt Nam, tạo bản sắc và giữ gìn kiến trúc truyền thống, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu trực tiếp hỗ trợ các địa phương khó khăn trong việc triển khai quy hoạch xây dựng nông thôn. Để cụ thể hóa những mong muốn này, trước hết cần có những phân tích thực trạng về các xu hướng ứng xử và thực hành truyền thống trong quy hoạch kiến trúc nông thôn hiện nay.</p> <p>Xu hướng thứ nhất là “Phục hồi truyền thống” - nỗ lực bảo tồn nguyên trạng kiến trúc truyền thống trong các không gian nông thôn đang biến đổi mạnh mẽ. Đây là một trong những xu hướng ứng xử “chính thống” với truyền thống là bảo tồn nguyên trạng, tức là cố gắng phục hồi tính nguyên gốc ban đầu của nhà truyền thống.</p> <p>Xu hướng thứ hai là “Nâng cấp truyền thống” - cập nhật kiến trúc truyền thống theo những quan điểm mới về công năng và thẩm mỹ. Một số hộ gia đình nông thôn với điều kiện kinh tế khá hơn bắt đầu nâng cấp nhà truyền thống của mình bằng những vật liệu mới hoặc cách thức hoàn thiện mới mang tinh thần hiện đại hơn.</p> <p>Xu hướng thứ ba là “Giả truyền thống” - chuyển đổi, thay thế vật liệu và hình thức giả theo kiến trúc truyền thống. Nhiều nhà được xây mới nhưng vẫn muốn giữ lại tinh thần truyền thống nên sử dụng các hình thức mô phỏng kiến trúc truyền thống và thường gắn với những quan điểm sử dụng các loại vật liệu “giả” (vật liệu này giả vật liệu kia).</p> <p>Xu hướng thứ tư là “Luân chuyển truyền thống” - tái dựng và tái sinh truyền thống của nơi này ở một nơi khác. Nhà truyền thống được bán đi và sau đó sẽ được tái hiện lại ở một nơi khác chứ không phải trong bối cảnh nơi nó sinh ra. Hệ quả là nghịch lý “đổi gu” khi các kiến trúc truyền thống dần rời khỏi nông thôn để về đô thị, trong khi các hình thức kiến trúc đô thị lại dần chiếm lĩnh khu vực nông thôn.</p> <p>Xu hướng thứ năm là “Tạo dựng truyền thống mới” - tái định nghĩa kiến trúc truyền thống. Hầu hết không gian cư trú nông thôn hiện nay đã được cải tạo, xây mới theo các loại hình kiến trúc mới và <br>hiện đại hơn, theo đuổi những mô hình kiến trúc như thành thị tạo ra kiểu nhà “truyền thống mới”, góp phần hình thành hệ thống quan điểm thẩm mỹ và giá trị văn hóa mới trong quy hoạch kiến trúc <br>nông thôn.</p> <p>Xu hướng thứ sáu là “Truyền thống hóa” - vận dụng chất liệu truyền thống vào kiến trúc đương đại. Mặc dù được xây dựng mới nhưng các kiến trúc đương đại lại muốn hướng đến các tinh thần của kiến trúc truyền thống, như một cách để thể hiện cái “văn hóa gốc”, “giá trị gốc” của cộng đồng dân cư.</p> <p>Currently, rural architectural planning has not received adequate attention, often proceeding spontaneously with little guidance in terms of planning, architecture, and aesthetics, both theoretically and practically, lacking clear direction, as reflected in the observation of a “harsh break with the past”. According to Directive No. 04/CT-TTg dated February 7, 2023, regarding the orientation for rural architectural planning development in Vietnam, creating a sense of identity and preserving traditional architecture, the Prime Minister has directly requested support for disadvantaged localities in implementing rural <br>construction planning. To concretize these aspirations, it is essential first to analyze the current trends in behavior and traditional practices related to rural architectural planning.</p> <p>The first trend is “Restoring Tradition” - an effort to preserve the original state of traditional architecture amidst rapid changes in rural spaces. This approach is one of the “orthodox” methods of preserving tradition, involving efforts to restore traditional houses to their original features.</p> <p>The second trend is “Upgrading Tradition” - updating traditional architecture according to new perspectives on function and aesthetics. Some rural households with better economic conditions are beginning to upgrade their traditional houses using new materials or more modern finishing techniques.</p> <p>The third trend is ”imulating Tradition” - transforming and replacing materials and forms to imitate traditional architecture. Many newly built houses aim to retain a traditional spirit by employing forms that mimic traditional designs, often using “fake” materials - materials that imitate others.</p> <p>The fourth trend is “Circulating Tradition” - reconstructing and transferring traditional styles from one place to another. Traditional houses may be sold and recreated elsewhere, outside their original context. This leads to a paradox of “style exchange”, where traditional architecture gradually moves from rural to urban areas, while urban architectural styles increasingly influence rural designs.</p> <p>The fifth trend is “Creating New Traditions” - redefining traditional architecture. Many rural residences have been renovated or rebuilt using modern architectural styles that pursue urban-like aesthetics, resulting in the emergence of a “new traditional” house. This fosters new aesthetic perspectives and cultural values within rural architectural planning.</p> <p>The sixth trend is “Traditionalizing” - applying traditional elements to contemporary architecture. Although newly constructed, modern architecture aims to capture the spirit of traditional design as a way to express the “original culture” and “core values” of the community.In essence, the behaviors and traditional practices influencing rural architectural planning in Vietnam are not strictly dictated or regulated by “tradition” itself but are connected to a meaningful past - referred to as “tradition”.</p> Minh Tùng Trần Bản quyền (c) 2026-02-25 2026-02-25 138 1 46 53 Chỉ tiêu tích hợp đánh giá đô thị xanh, ứng phó biến đổi khí hậu và chuyển đổi số https://vjol.info.vn/qhdt/article/view/137054 <p>Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh và tác động ngày càng gia tăng của biến đổi khí hậu, các đô thị Việt Nam đang đồng thời đối mặt với yêu cầu chuyển đổi mô hình phát triển theo hướng tăng trưởng xanh, nâng cao năng lực chống chịu và thúc đẩy chuyển đổi số. Thực tiễn cho thấy, nhiều bộ chỉ số đánh giá đô thị đã được xây dựng và áp dụng riêng rẽ cho từng lĩnh vực, song còn thiếu một khung đánh giá tích hợp phản ánh đầy đủ mối quan hệ tương hỗ giữa các trụ cột phát triển bền vững. Trên cơ sở tổng hợp kinh nghiệm quốc tế và phân tích thực trạng áp dụng tại Việt Nam, bài báo đề xuất bộ chỉ tiêu tích hợp đánh giá đô thị xanh, ứng phó biến đổi khí hậu và chuyển đổi số, đồng thời kiến nghị định hướng áp dụng trong quản lý và phát triển đô thị Việt Nam giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045.</p> <p>Amid rapid urbanization and the intensifying impacts of climate change, Vietnamese cities face increasing pressure to transform their development models toward green growth, enhanced climate resilience, and digital transformation. In recent years, various urban indicator systems have been developed and applied in Viet Nam to assess these dimensions; however, they are largely implemented in a fragmented manner, focusing on individual sectors and lacking an integrated framework that captures the interdependencies among the pillars of sustainable urban development. Drawing on a review of international practices and an analysis of the current application of urban indicators in Viet Nam, this paper proposes an integrated indicator framework for assessing green urban development, climate change adaptation, and digital transformation. The proposed framework aims to provide a comprehensive, measurable, and practical tool to support urban planning, management, and policy decision-making. The paper also discusses directions <br>for applying the integrated indicator system in the context of urban management and development in Viet Nam.</p> Việt Dũng Nguyễn Bản quyền (c) 2026-02-25 2026-02-25 138 1 66 69 Mô phỏng vi mô và tối ưu hóa tín hiệu giao thông bằng thuật toán di truyền cho hành lang đô thị trung tâm đô thị nha trang, tỉnh Khánh hòa https://vjol.info.vn/qhdt/article/view/137056 <p>Ùn tắc giao thông tại các đô thị du lịch ven biển đang trở thành vấn đề nghiêm trọng do lưu lượng giao thông hỗn hợp và biến động mạnh theo mùa du lịch. Tại thành phố Nha Trang, khu vực phường Lộc Thọ cũ (nay là phường Nha Trang) thường xuyên xảy ra ùn tắc trong giờ cao điểm, ảnh hưởng đến hiệu quả vận hành giao thông và chất lượng sống đô thị. Nghiên cứu này xây dựng mô hình mô phỏng giao thông vi mô bằng phần mềm AnyLogic cho hành lang Trần Phú - Nguyễn Thị Minh Khai - Hùng Vương - Nguyễn Thiện Thuật, kết hợp thuật toán di truyền để tối ưu hóa các tham số điều khiển tín hiệu đèn giao thông. Dữ liệu lưu lượng theo hướng và theo loại phương tiện được thu thập từ thiết bị ghi hình chuyên dụng tại ba nút giao trọng yếu, xử lý và quy đổi về đơn vị xe con tiêu chuẩn (PCU) làm đầu vào cho mô hình. Kết quả cho thấy phương án sau tối ưu hóa giúp giảm độ trễ trung bình 25-30%, giảm chiều dài hàng chờ cực đại gần 30% và tăng vận tốc hành trình trung bình khoảng 30%, đồng thời cải thiện mức phục vụ từ D lên C. Nghiên cứu khẳng định tính hiệu quả và khả năng ứng dụng của phương pháp trong bối cảnh đô thị du lịch ven biển ở Việt Nam.</p> <p>Traffic congestion in coastal tourism cities has become a serious problem due to mixed traffic flow and strong seasonal fluctuations in tourism. In Nha Trang City, the old Loc Tho Ward (now Nha Trang Ward) <br>frequently experiences congestion during peak hours, affecting traffic operation efficiency and urban quality of life. This study develops a microscopic traffic simulation model using AnyLogic software for the Tran Phu - Nguyen Thi Minh Khai - Hung Vuong - Nguyen Thien Thuat corridor, combined with a genetic algorithm to optimize traffic signal control parameters. Directional traffic flow data by vehicle type were collected using <br>specialized recording devices at three critical intersections, processed and converted to standard passenger car units (PCU) as model input. Results show that the optimized scenario reduces average delay by 25<br>30%, maximum queue length by nearly 30%, and increases average travel speed by approximately 30%, while improving the level of service from D to C. The study confirms the effectiveness and applicability of this <br>method in the context of coastal tourism cities in Vietnam.</p> Phan anh Tuấn 1, Đỗ Trí Cường 2, Trịnh Tú anh 2* Bản quyền (c) 2026-02-25 2026-02-25 138 1 70 75