https://vjol.info.vn/sphcm/issue/feedTạp chí Khoa học - Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh 2026-02-09T05:03:26+07:00Nguyễn Thị Thúy Trinhphongkhcn@hcmup.edu.vnOpen Journal Systems<p><strong>Tạp chí của Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh</strong></p>https://vjol.info.vn/sphcm/article/view/131720VỐN TÂM LÍ TRONG KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN: GÓC NHÌN LÍ LUẬN VÀ ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU2026-02-09T04:29:53+07:00Huỳnh Văn Sơnphongkhcn@hcmup.edu.vnNguyễn Thanh Huânphongkhcn@hcmup.edu.vnGiang Thiên Vũphongkhcn@hcmup.edu.vnNguyễn Lâmphongkhcn@hcmup.edu.vn<p>Bài báo tổng hợp các quan điểm lí luận và nghiên cứu về vốn tâm lí trong khởi nghiệp, nhấn mạnh tầm quan trọng của các yếu tố như: lạc quan, hi vọng, kiên trì và khả năng thích ứng trong quá trình khởi nghiệp. Dựa trên tổng thuật lí thuyết, bài báo đề xuất ba hướng nghiên cứu quan trọng: (1) khám phá tác động của vốn tâm lí đến hành vi và kết quả khởi nghiệp của sinh viên Việt Nam, (2) phát triển và đánh giá các chương trình can thiệp nhằm nâng cao vốn tâm lí trong giáo dục khởi nghiệp, và (3) khảo sát sự khác biệt về vốn tâm lí trong khởi nghiệp giữa các nhóm sinh viên với đặc điểm văn hóa và chuyên ngành khác nhau. Nghiên cứu cũng ghi nhận một số hạn chế, bao gồm việc thiếu các nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam và sự cần thiết phải điều chỉnh khái niệm vốn tâm lí để phù hợp với bối cảnh địa phương. Những phát hiện từ nghiên cứu này gợi mở nhiều cơ hội cho các nghiên cứu tiếp theo nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục khởi nghiệp và hỗ trợ sự phát triển của các doanh nhân trẻ.</p>2025-11-01T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/sphcm/article/view/131721CHẤN THƯƠNG HẬU NHÂN BẢN: LIÊN THUYẾT VÀ KHẢ NĂNG VẬN DỤNG2026-02-09T04:38:05+07:00Võ Quốc Việtphongkhcn@hcmup.edu.vn<p>Từ đầu thế kỉ XXI, văn hóa chấn thương đương đại cho thấy vai trò ngày càng tăng của tác nhân phi nhân loại, dẫn đến việc khái niệm hóa chấn thương như hiện tượng hậu nhân bản. Quan điểm này đòi hỏi cách tiếp cận liên ngành tích hợp lí thuyết chấn thương và hậu nhân bản để giải quyết sâu sắc và toàn diện những vấn đề phức tạp của xã hội đương đại. Bằng cách sử dụng tham chiếu liên thuyết, cách đọc song song và giải cấu trúc, nghiên cứu này xem xét các kết nối, giao cắt, hội tụ, tương tác và cộng hưởng giữa lí thuyết chấn thương và hậu nhân bản. Cách tiếp cận tích hợp này còn cho thấy tiềm năng đáng kể trong việc ứng dụng nghiên cứu văn hóa, văn học, triết học, cũng như khoa học hậu nhân bản nói chung. Thêm vào đó, bài viết gợi mở các phương diện cần được tiếp tục nghiên cứu, đóng góp cho sự phát triển liên tục của lĩnh vực liên ngành này.</p>2025-11-01T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/sphcm/article/view/131722VĂN XUÔI HƯ CẤU NGUYỄN NGỌC TƯ TỪ GÓC NHÌN CỔ MẪU2026-02-09T04:39:13+07:00Hoàng Thị Thùy Dươngphongkhcn@hcmup.edu.vn<p>Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn nữ tiêu biểu của văn học Nam Bộ. Nhà văn này có nhiều tác phẩm văn xuôi hư cấu, gồm truyện ngắn và tiểu thuyết, thể hiện đậm nét cuộc sống và con người Nam Bộ. Kết quả khảo sát 7 tập truyện ngắn và 2 tiểu thuyết của Nguyễn Ngọc Tư cho thấy tác giả đã thể hiện các cổ mẫu như nước, đất, cây, gió, mây, trời, cánh đồng, lửa, khói, thuyền, bến, người phụ nữ, mộng… Các cổ mẫu này mang những ý nghĩa khác nhau. Điểm chung của chúng là đã tồn tại từ xa xưa, thể hiện sự gắn bó lâu đời của con người và tự nhiên, bày tỏ đời sống tâm hồn của con người, tạo nên sự đồng cảm trong lòng người đọc. Bài viết này trình bày các dạng thức và ý nghĩa của các cổ mẫu tiêu biểu nhất trong văn xuôi hư cấu của Nguyễn Ngọc Tư, gồm: cổ mẫu nước, cổ mẫu đất, cổ mẫu cây và cổ mẫu người nữ; từ đó, bài viết góp phần trình bày và lí giải những đóng góp của nhà văn này đối với văn học Việt Nam đương đại.</p>2025-11-01T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/sphcm/article/view/131723BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ NGOẠI GIAO VĂN HÓA CỦA NHẬT BẢN VÀ HÀN QUỐC ĐỐI VỚI VIỆT NAM2026-02-09T04:40:22+07:00Huỳnh Cẩm Thúyphongkhcn@hcmup.edu.vnNguyễn Minh Giangphongkhcn@hcmup.edu.vn<p>Ngoại giao văn hóa là một hình thức sử dụng văn hóa để cải thiện hiệu quả công tác ngoại giao, cũng như thúc đẩy văn hóa dân tộc dựa trên những mối liên kết lẫn nhau ngày càng gia tăng qua các sản phẩm văn hóa. Bằng phương pháp phân tích - tổng hợp dữ liệu định tính thứ cấp, bài viết cho thấy kể từ sau chiến tranh Lạnh đến nay, số lượng và chất lượng các sản phẩm văn hóa giao lưu giữa Việt-Nhật và giữa Việt-Hàn đều không ngừng gia tăng, góp phần gia tăng đáng kể kim ngạch thương mại du lịch và giáo dục giữa Việt - Nhật, Việt - Hàn. Đồng thời, sự tăng cường giao lưu văn hóa, hiệu quả của ngoại giao văn hóa cũng giúp các nước hiểu biết lẫn nhau sâu sắc hơn, từ đó làm tiền đề, động lực thúc đẩy phát triển ngoại giao trên các lĩnh vực khác và củng cố vị thế quốc gia trên trường quốc tế.</p>2025-11-01T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/sphcm/article/view/131725CÁC HÀNH ĐỘNG NGÔN NGỮ PHỔ BIẾN THỂ HIỆN ĐỊNH KIẾN ĐỐI VỚI NAM GIỚI TRONG HỘI THOẠI2026-02-09T04:41:21+07:00Trần Thị Mai Hươngphongkhcn@hcmup.edu.vn<p>Định kiến giới là hiện tượng phổ biến trong xã hội và được thể hiện dưới nhiều dạng thức, trong đó, ngôn ngữ là một hình thức biểu hiện thường gặp và dễ nhận biết. Thông thường, phụ nữ là đối tượng gánh chịu nhiều định kiến từ lời nói của những người xung quanh. Tuy nhiên, trong giao tiếp hằng ngày, nam giới cũng phải đối mặt với các ràng buộc, chuẩn mực và kì vọng của xã hội về khả năng, hành vi, cách ứng xử, thái độ… xuất phát từ các niềm tin, quan điểm, khuôn mẫu mà xã hội đặt ra cho những người thuộc giới nam. Các nghiên cứu cho thấy những định kiến này không chỉ ảnh hưởng đến cách nam giới tự nhận thức về bản thân mà còn tác động sâu sắc đến cách họ tương tác và giao tiếp với những người khác trong gia đình và xã hội. Thông qua việc phân tích các ngữ liệu là các lượt lời trong hội thoại có nội dung thể hiện định kiến đối với nam giới, bài viết này chỉ ra những hành động ngôn ngữ chủ yếu thường được người nói lựa chọn để bộc lộ định kiến đối với nam giới. Việc nghiên cứu các định kiến đối với nam giới trong ngôn ngữ giao tiếp tiếng Việt góp phần thúc đẩy sự nhận thức về sức mạnh của lời nói chứa đựng định kiến giới, từ đó nâng cao ý thức lựa chọn phương tiện ngôn ngữ và chiến lược giao tiếp phù hợp nhằm giảm thiểu hoặc lí tưởng hơn là loại bỏ những phát ngôn bộc lộ định kiến giới.</p>2025-11-01T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/sphcm/article/view/131726ẢNH HƯỞNG CỦA CHỦ NGHĨA BÁ QUYỀN PHÁP TRONG CÁC TÁC PHẨM VIẾT VỀ AN NAM CỦA NGƯỜI PHÁP: NGHỆ THUẬT XỨ AN NAM CỦA HENRI GOURDON, TÂM LÍ DÂN TỘC AN NAM CỦA PAUL GIRAN VÀ BẮC KỲ TẠP LỤCCỦA HENRI EMMANUEL SOUVIGNET2026-02-09T04:42:20+07:00Phạm Thị Thúy Hằngphongkhcn@hcmup.edu.vn<p>Sự hiện diện của người Pháp tại An Nam từ năm 1858 và quá trình chiếm đóng, thuộc địa hóa Nam Kỳ trong giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX là một sự kiện lịch sử quan trọng. Họ tự xem mình là những đại diện cho nền văn minh đại Pháp thượng đẳng tại xứ thuộc địa với sứ mệnh khai hóa, đem văn minh đến cho một dân tộc mông muội. Chủ nghĩa bá quyền Pháp là một lí thuyết công cụ chi phối mọi hoạt động của người Pháp ở xứ thuộc địa An Nam. Dựa trên nền tảng lí thuyết về chủ nghĩa bá quyền và bá quyền văn hóa của Edward Wadie Said, bài viết phân tích các khía cạnh biểu hiện của chủ nghĩa bá quyền Pháp trong một vài tác phẩm tiêu biểu của người Pháp viết về An Nam cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX; từ đó kết luận về sự ảnh hưởng sâu sắc của chủ nghĩa bá quyền một cách có ý thức hoặc vô thức, thể hiện trong mục đích sáng tác, nội dung tư tưởng và những “diễn ngôn quyền lực” của các tác phẩm này.</p>2025-11-01T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/sphcm/article/view/131727BÌNH ĐỊNH GIAO NAM LỤC: SỬ LIỆU TRUNG QUỐC THỜI MINH VIẾT VỀ CUỘC CHIẾN MINH – HỒ2026-02-09T04:43:54+07:00Nguyễn Đông Triềuphongkhcn@hcmup.edu.vn<p>Bình định Giao Nam lục là tập sử liệu của Trung Quốc chép về cuộc chinh phạt nước Đại Ngu (Việt Nam thời nhà Hồ) do nhà Minh thực hiện trong khoảng hai năm cuối thời nhà Hồ 1406-1407. Về giá trị, sách này bổ sung cho sử liệu Việt Nam một số chi tiết không chép trong Đại Việt sử kí toàn thư, đặc biệt là những thư từ trao đổi giữa˙Hồ Quý Ly với quân Minh. Bên cạnh đó, sách cũng mắc một số nhược điểm do được biên chép từ phía nhà Minh như bỏ qua những tổn thất của quân Minh, chép sai lệch thông tin và sự kiện so với sử liệu Việt Nam. Những sai lệch này có thể do quân Minh không nắm hết tình hình diễn ra ở Đại Ngu, cũng có thể do cố ý nhằm mục đích chính trị. Dù vậy, sách vẫn là nguồn tư liệu quý, có độ tin cậy cao, giúp hiểu rõ hơn về cuộc chinh phạt này và nhân vật Hồ Quý Ly. Bài viết này nêu ra một số đặc điểm về nội dung của Bình định Giao Nam lục, trong đó có điểm qua đóng góp và hạn chế của sách.</p>2025-11-01T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/sphcm/article/view/131729LIÊN THÔNG THƯ VIỆN TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM Ở VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP2026-02-09T04:47:11+07:00Lê Văn Hiếuphongkhcn@hcmup.edu.vnPhạm Thị Tràphongkhcn@hcmup.edu.vnTrần Khánh Quyênphongkhcn@hcmup.edu.vn<p>Liên thông thư viện (LTTV) đóng vai trò then chốt trong việc tối ưu hóa nguồn tài nguyên thông tin và nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học trong bối cảnh giáo dục hiện nay. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng LTTV tại 07 trường đại học sư phạm (ĐHSP) ở Việt Nam thông qua khảo sát và phỏng vấn bán cấu trúc 64 cán bộ thư viện. Kết quả cho thấy một số trường đã tham gia các hoạt động liên thông và hợp tác chia sẻ tài nguyên thông tin, nhưng các hoạt động này còn thiếu đồng bộ và phân tán; các hình thức chuyên sâu như chia sẻ biểu ghi, mượn liên thư viện hay tích hợp cơ sở dữ liệu dùng chung vẫn rất hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất nhóm giải pháp trọng tâm nhằm tạo nền tảng cho LTTV bền vững, tăng khả năng truy cập và khai thác tài nguyên thông tin, từ đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học tại các trường ĐHSP.</p>2025-11-01T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/sphcm/article/view/131730TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ QUA TỔ CHỨC HỌC TẬP TRẢI NGHIỆM CHO SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC MẦM NON2026-02-09T04:49:59+07:00Trần Thị Thanh Tuyềnphongkhcn@hcmup.edu.vnDương Thị Kim Oanhphongkhcn@hcmup.edu.vn<p>Bài báo tổng quan nghiên cứu về phát triển năng lực đánh giá sự phát triển của trẻ qua tổ chức học tập trải nghiệm cho sinh viên ngành Giáo dục mầm non. Bằng việc sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu để hệ thống hóa các công trình khoa học, bài viết đã xác định được ba định hướng trọng tâm: 1) Năng lực đánh giá sự phát triển của trẻ; 2) Học tập trải nghiệm; 3) Phát triển năng lực đánh giá sự phát triển của trẻ qua tổ chức học tập trải nghiệm cho sinh viên ngành Giáo dục mầm non. Trên cơ sở đó, bài viết gợi ý một số định hướng nghiên cứu nhằm nâng cao năng lực đánh giá sự phát triển của trẻ cho sinh viên ngành Giáo dục mầm non ở Việt Nam.</p>2025-11-01T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/sphcm/article/view/131731ÁP DỤNG MÔ HÌNH THỰC TẾ CHO MÔN HỌC VẼ KĨ THUẬT TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA – ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH2026-02-09T04:51:34+07:00Huỳnh Tấn Phátphongkhcn@hcmup.edu.vnNguyễn Thị Kim Uyênphongkhcn@hcmup.edu.vnNguyễn Thanh Vânphongkhcn@hcmup.edu.vnĐặng Lê Trầm Hươngphongkhcn@hcmup.edu.vn<p>Để học tốt môn học Vẽ kĩ thuật đòi hỏi sinh viên cần có một khả năng tư duy không gian nhất định. Tuy nhiên, sinh viên luôn có những năng lực khác nhau, cũng như khác biệt về phong cách học tập. Vì vậy, các giảng viên thuộc Bộ môn Hình họa - Vẽ kĩ thuật, Trường Đại học Bách khoa – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (ĐHQG-HCM), đã có những nghiên cứu để áp dụng mô hình thực tế vào giải quyết những vấn đề mang tính trừu tượng trong môn học Vẽ kĩ thuật, nhằm đa dạng hóa những phương thức truyền đạt kiến thức cũng như cách tiếp cận kiến thức của sinh viên. Qua đó, giúp sinh viên, với khả năng tư duy không gian và phong cách học tập khác nhau, có thể tiếp nhận và khám phá kiến thức một cách hiệu quả và hứng thú trong mỗi buổi học. Kết quả khảo sát cho thấy trên 50% sinh viên hoàn toàn đồng ý về việc cải thiện khả năng tư duy không gian khi sử dụng mô hình thực tế và 75% sinh viên hoàn toàn đồng ý về hiệu quả của đề tài này.</p>2025-11-01T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/sphcm/article/view/131733VỀ MỘT SỐ TÍNH CHẤT ĐỒ THỊ CỦA ĐẠI SỐ LIE HEISENBERG2026-02-09T04:52:54+07:00Dương Quang Hòaphongkhcn@hcmup.edu.vnHà Văn Hiếuphongkhcn@hcmup.edu.vnNguyễn Thị Mộng Tuyềnphongkhcn@hcmup.edu.vn<p>Đại số Lie Heisenberg đóng vai trò quan trọng trong cả toán học và vật lí, đặc biệt là trong cơ học lượng tử. Các đại số này giúp chúng ta biểu diễn nguyên lí không chắc chắn và các mối quan hệ giao hoán giữa các biến cố trong cơ học lượng tử. Nhiều khía cạnh và tính chất cùng những ứng dụng của đại số Lie Heisenberg đã được nghiên cứu. Trong bài báo này, chúng tôi tập trung vào biểu diễn rời rạc của đại số Lie Heisenberg. Cụ thể, chúng tôi sẽ nghiên cứu về đồ thị giao hoán của họ tất cả các đại số Lie Heisenberg. Từ đó chỉ ra hình dáng của chúng, và nêu một số đặc trưng quan trọng như là tính liên thông và đường kính.</p>2025-11-01T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/sphcm/article/view/131734TÍCH CỦA CÁC MA TRẬN ĐỐI HỢP TRONG NHÓM VERSHIK–KEROV2026-02-09T04:54:20+07:00Nguyễn Phú Thịnhphongkhcn@hcmup.edu.vnNguyễn Anh Sỹphongkhcn@hcmup.edu.vnTrịnh Quốc Huyphongkhcn@hcmup.edu.vn<p>Cho Flà một trường tùy ý. Kí hiệu VK,SL()F∞ là nhóm tất cả các ma trận vô hạn có dạng<br>0ABT,<br>trong đó A là một ma trận cấp nn×có định thức bằng 1 với n là một số nguyên dương nào đó và T là một ma trận tam giác trên vô hạn có các hệ số trên đường chéo chính bằng 1. Trong bài báo này, chúng tôi chứng minh được rằng mọi ma trận trong VK,SL()F∞ đều có thể phân tích được thành tích của nhiều nhất bốn ma trận đối hợp. Kết quả này của chúng tôi đã giải quyết được Vấn đề 8 trong bài báo của Nguyen (2024).</p>2025-11-01T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/sphcm/article/view/131736PHƯƠNG PHÁP PHẦN TỬ HỮU HẠN KHÔNG – THỜI GIAN GIẢI XẤP XỈ PHƯƠNG TRÌNH PHẢN ỨNG KHUẾCH TÁN2026-02-09T04:55:37+07:00Phạm Phi Hùngphongkhcn@hcmup.edu.vnMai Thị Tuyết Nhungphongkhcn@hcmup.edu.vnTạ Thị Thanh Maiphongkhcn@hcmup.edu.vn<p>Trong bài báo này chúng tôi trình bày phương pháp phần tử hữu hạn không-thời gian (space-time finite element method) giải xấp xỉ phương trình phản ứng khuếch tán. Khác với các phương pháp số truyền thống phân tách xấp xỉ miền thời gian và không gian riêng biệt, phương pháp này rời rạc đồng thời miền Q = Ω × (0, T ) trên cùng một cấu trúc lưới, giúp tối ưu chi phí tính toán và nâng cao độ chính xác của nghiệm xấp xỉ. Cách tiếp cận của phương pháp là đưa bài toán ban đầu về dạng biến phân (bài toán yếu). Tính đặt chỉnh của bài toán yếu được chứng minh thông qua việc áp dụng định lí Banach–Nečas–Babuška, đảm bảo sự tồn tại, duy nhất nghiệm. Phân tích đánh giá sai số tiên nghiệm (a priori error estimates) cho thấy phương pháp đạt tốc độ hội tụ tối ưu trong không gian tương ứng. Tính hiệu quả và độ chính xác của phương pháp được kiểm chứng qua các thí nghiệm số được xây dựng trên phần mềm mã nguồn mở FreeFEM++.</p>2025-11-01T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/sphcm/article/view/131737KHAI THÁC CÁC MẪU PHỔ BIẾN TRÊN CƠ SỞ DỮ LIỆU TRỌNG SỐ ĐỘNG2026-02-09T04:56:47+07:00Ngô Việt Anhphongkhcn@hcmup.edu.vnNguyễn Duy Hàmphongkhcn@hcmup.edu.vn<p>Khai thác các mẫu là một trong những bài toán cơ bản của khai thác dữ liệu hiện đại. Trong đó khai thác mẫu trên các loại cơ sở dữ liệu có định lượng (Frequent weighted patterns -PWPs) là một bài toán quan trọng của khai thác mẫu, đây là bài toán nhằm tìm ra các mẫu phổ biến trên cơ sở dữ liệu (CSDL) định lượng. Tuy nhiên các nghiên cứu hiện tại chưa quan tâm đến các CSDL định lượng có sự thay đổi trọng số của các mục (dynamic weighted Database - dWDB). Trong thực tế, nhiều CSDL mà trọng số của các mục có thể thay đổi theo thời gian, khi trọng số của các mục đại diện cho mức độ quan trọng như lợi nhuận của các mặt hàng hay mức độ quan trọng của các mặt hàng trong từng thời điểm nhất định (Ví dụ máy lạnh sẽ được bán nhiều vào mùa hè, khẩu trang y tế sẽ có vai trò quan trọng trong các đợt dịch thông qua đường hô hấp...). Trong bài báo này, trước hết chúng tôi giới thiệu một bài toán mới về khai thác PWPs với các mục có trọng số động từ cơ sở dữ liệu định lượng - CSDL định lượng động. Tiếp theo, một thuật toán gọi là dFWNL được phát triển sử dụng cấu trúc dữ liệu mới là dWNList để khai thác PWPs từ dWDB. Cuối cùng, chúng tôi thực hiện thực nghiệm trên nhiều dWDB khác nhau để chứng minh hiệu quả của các thuật toán đề xuất.</p>2025-11-01T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/sphcm/article/view/131738ẢNH HƯỞNG CỦA VẬT LIỆU CẤY GHÉP XƯƠNG BCP (Basic Calcium Phosphate) và BCP-NPS (Basic Calcium Phosphate – Nano Porous Silica) LÊN SỐ LƯỢNG TẾ BÀO MÁU VÀ NỘI QUAN CỦA CHUỘT NHẮT TRẮNG (Mus musculus var. albino)2026-02-09T04:58:47+07:00Trần Cẩm Túphongkhcn@hcmup.edu.vnHoàng Nghĩa Sơnphongkhcn@hcmup.edu.vnLê Phúc Chiếnphongkhcn@hcmup.edu.vnNguyễn Thị Thanh Hằngphongkhcn@hcmup.edu.vnBùi Quốc Thắngphongkhcn@hcmup.edu.vnNguyễn Đại Hảiphongkhcn@hcmup.edu.vnNguyễn Thị Thương Huyềnphongkhcn@hcmup.edu.vn<p>Nghiên cứu này tập trung đến những ảnh hưởng của vật liệu cấy ghép xương BCP (Basic Calcium Phosphate) và BCP-NPS (Basic Calcium Phosphate – Nano Porous Silica) đối với các chỉ số huyết học trên mô hình chuột nhắt trắng in vivo nhằm đánh giá được các tác động của vật liệu đối với số lượng tế bào máu và nội quan. Thí nghiệm được thực hiện trên 35 chuột cái 6 tuần tuổi trong mô hình tổn thương xương, gồm 5 nghiệm thức: Đối chứng (ĐC), đối chứng âm (KC), vật liệu nghiên cứu BCP-NC, vật liệu nghiên cứu BCP-NPS, đối chứng dương (BCP-TM). Kết quả cho thấy cả hai loại vật liệu cấy ghép đều gây ra những biến động tạm thời về số lượng bạch cầu và tiểu cầu (đặc biệt ở tuần thứ 2) ở nghiệm thức KC có số lượng hồng cầu và Hb cao nhất so với các nghiệm thức còn lại (10,38x106TB/mm3), tuy nhiên, sau 4 tuần, các khác biệt này đều không có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Hơn nữa, các vật liệu này không gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến gan, thận và lách chuột. Điều này khẳng định tiềm năng ứng dụng của các vật liệu BCP và BCP-NPS trong điều trị cấy ghép xương, với tác động tăng sinh tế bào gốc ở nơi cấy ghép cũng như kích thích khả năng tái tạo mô nhanh hơn.</p>2025-11-01T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/sphcm/article/view/131739PHÂN LẬP VÀ TUYỂN CHỌN VI KHUẨN NỘI SINH CÓ KHẢ NĂNG CỐ ĐỊNH ĐẠM VÀ TỔNG HỢP IAA TỪ CÂY LÚA (Oryza sativa L.) TRỒNG TẠI ĐỒNG THÁP VÀ LONG AN2026-02-09T05:00:39+07:00Lê Thị Ánh Hồngphongkhcn@hcmup.edu.vnChâu Thị Hồng Đàophongkhcn@hcmup.edu.vnNguyễn Tường Viphongkhcn@hcmup.edu.vnDương Thị Hồng Đàophongkhcn@hcmup.edu.vnBạch Ngọc Minhphongkhcn@hcmup.edu.vn<p>Từ mẫu lúa thu ở Long An và Đồng Tháp, phân lập trên môi trường LGI đã thu được 48 chủng vi khuẩn nội sinh. Trong đó 9 chủng có khả năng cố định đạm với hàm lượng amoni được sinh ra từ 131,31 – 371,57 μg/mL và 12 chủng có khả năng sinh tổng hợp chất kích thích sinh trưởng IAA từ 24.548 - 75.596 μg/mL. Tuyển chọn được 2 chủng có khả năng cố định đạm và sinh tổng hợp IAA cao nhất là chủng LV5-L1 và chủng LV1-R1. Khảo sát ảnh hưởng của 2 chủng này đến sinh trưởng của cây lúa, thí nghiệm bổ sung chủng LV5-L1 cho chiều dài thân 22,93 cm,chiều dài rễ 7,67 cm, số rễ 9,67, hàm lượng chlorophyll a 10,87 μg/ml và chlorophyll b 5,5994 μg/ml và chủng LV1-R1 cho chiều dài thân 21,63 cm,chiều dài rễ 7,10 cm, số rễ 10, hàm lượng chlorophyll a 10,77 μg/ml và chlorophyll b 5.349 μg/ml. Bằng kĩ thuật PCR định danh chủng LV5-L1 có 98,35% tương đồng với Bacillus subtilis và chủng LV1-R1 có độ tương đồng 100% với Paenibacillus provencensis</p>2025-11-01T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/sphcm/article/view/131740NEW DISTRIBUTION RECORDS AND MORPHOLOGICAL INSIGHTS OF Lygosoma angeli (Smith, 1937) IN SOUTHERN VIETNAM2026-02-09T05:02:53+07:00Phan Vu Phuc Lanphongkhcn@hcmup.edu.vnChau Hong Phucphongkhcn@hcmup.edu.vnLuu Hung Phiphongkhcn@hcmup.edu.vnKhuong Huu Thangphongkhcn@hcmup.edu.vnKieu Dinh Thapphongkhcn@hcmup.edu.vnNguyen Thi Ngaphongkhcn@hcmup.edu.vnNguyen Thi Phuong Thaophongkhcn@hcmup.edu.vnNguyen Dang Hoang Vuphongkhcn@hcmup.edu.vn<p>This study reports new locality record of three specimens of Lygosoma angeli (Smith 1937) from Bu Gia Map National Park, Dong Nai Province, southern Vietnam. Notably, this site is geographically closer to the only known record in Cambodia than to any previously documented localities in Vietnam. This study also provides expanded morphological data, including both meristic and mensural characters, as well as color descriptions. Some variations in mensural characters, particularly head width and head depth, were observed in the three specimens compared with previously published data. Additionally, this study discusses the species’ potential distribution based on “Research Grade” public observations on iNaturalist, which suggests a broader range in Vietnam and Cambodia. Finally, the need for genetic analysis is highlighted to clarify population-level diversity and to assess the possibility of a distinct species occurring in the western part of the Mekong region.</p>2025-11-01T00:00:00+07:00Bản quyền (c)