Tạp chí Địa chất
https://vjol.info.vn/tapchidiachat
<p><strong>Tạp chí của Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản</strong></p>vi-VNTạp chí Địa chấtNội dung chính của bản đồ địa chất, tài nguyên địa chất Việt Nam và các vùng biển kế cận với sách thuyết minh mới
https://vjol.info.vn/tapchidiachat/article/view/135287
<p><em>Địa chất Việt Nam và các vùng biển kế cận có các bối cảnh phức tạp, chia ra 7 liên dãy (supersequence) từ Arkei qua Phanerozoi: I-Liên dãy Meso-Neoarkei phân bố ở địa khu Hoàng Liên Sơn, gồm gneis biotit, amphibolit bị các xâm nhập granitoid (TTG) có tuổi U-Pb zircon: 2900-2835 Tr.n. xuyên cắt; II. Liên dãy Paleoproterozoi: gồm đá phiến hai mica-disthen, bị các thể granosyenit, metagabro có khoảng tuổi 2325-2295 Tr.n. xuyên cắt và gneis amphibol-silimanit-granat ở dãy Núi Con Voi bị biến chất chồng đến tướng amphibolit và granulit; III. Liên dãy Meso-Neoproterozoi trung: gồm plagiogneis biotit-granat-silimanit (MP), đá phiến kết tinh chứa graphit (MP-NP<sub>1</sub>). Batholit Posen là granit kiểu I, có tuổi 762-758 Tr. n.; IV. Liên dãy Neoproterozoi trung – Silur: gồm turbidit lục nguyên, xen ít amphibolit-granat kiểu phức hệ bồi kết (NP<sub>3</sub>-</em><em>Ꞓ</em><em><sub>1</sub></em><em>), phân bố ở phía bắc đới ophiolit Sông Mã nguyên sinh, carbonat phosphorit (apatit) </em><em>Ꞓ</em><em><sub>1</sub></em><em> và các trầm tích lục nguyên-carbnat thềm nông, lục nguyên mịn turbidit thềm sâu chứa nhiều loại hoá thạch bám đáy (</em><em>Ꞓ</em><em><sub>2</sub></em><em>-O<sub>1</sub>). Ở địa khu Việt-Lào phổ biến đá phiến lục, amphibolit (NP<sub>3</sub>-</em><em>Ꞓ</em><em><sub>1</sub></em><em>) , còn tổ hợp ophiolit Hiệp Đức có khoảng tuổi 518-500 Tr. n., metaandesit basalt, andesit-dacit, turbidit lục nguyên-silic (</em><em>Ꞓ</em><em><sub>2</sub></em><em>-O<sub>1</sub>), granit kiểu I có tuổi 476-470 Tr. n. thuộc cung magma Long Đại và granit tạo núi kiểu S có tuổi 450-443 Tr. n. đánh dấu sự khép lại của Prototethys của cặp đôi hút chìm về hai phía 2 địa khu Kon Tum và Việt-Lào. Các đơn vị Silur thượng ở Việt Nam phân bố hạn chế hơn, chứa tay cuộn, san hô, cá, thực vật giống với Nam Trung Quốc; V. Liên dãy Devon-Permi thượng Wuchiaping nằm giả chỉnh hợp trên các đá cổ hơn, gồm trầm tích lục nguyên vụn chuyển lên carbonat-silic, chứa nhiều loại hoá thạch bám đáy. Tổ hợp ophiolit Sông Mã có tuổi 360-335 Tr. n. là chứng cứ tồn tại nhánh đại dương Paleotethys. Trầm tích nền carbonat (C<sub>1</sub>v-P<sub>3</sub>w) phân bố ở nhiều nơi và lục nguyên-carbonat-silic, andesit-basalt, ryodacit, granit kiểu I, có tuổi 300-270 Tr. n. (C<sub>2</sub>-P<sub>2</sub>), được xếp vào cung magma Mê Kông. VI. Liên dãy Permi thượng, Wuchiaping– Jura trung: bắt đầu bằng loạt basalt cùng xâm nhập đi kèm kiểu Emeishan phân bố trong các rirft nội lục ở Bắc Bộ, trên chúng là trầm tích chứa than paralic có hệ thực vật Cathaysia, thấu kính bauxit-alit, chuyển lên đá phiến sét-vôi. Ở địa khu Kon Tum phổ biến granulit, còn ở địa khu Việt-Lào là granit kiểu S, có tuổi 258-248 Tr.n. thuộc phân hệ tạo núi Indosini đồng va đẩy (P<sub>3</sub>-T<sub>1</sub>) Trường Sơn. Sau tạo núi là trầm tích lục nguyên-carbonat, ryodacit, granit tuổi 245-230 Tr.n. (T<sub>2</sub>-T<sub>3</sub><sup>c</sup>). Trầm tích Trias thượng Nori-Jura trung ở miền Bắc Việt Nam chủ yếu là lục nguyên vụn thô chứa than, có phong phú hoá thạch thực vật, nằm không chỉnh hợp trên các thành tạo cổ hơn, còn ở Miền Nam, vào Jura vẫn còn trầm tích biển; VII. Liên dãy Jura thượng-Đệ tứ: gồm trầm tích lục địa vụn thô màu đỏ và loạt núi lửa-pluton vôi-kiềm, có tuổi 120-95 Tr.n. cùng với hệ đai mạch tuổi 90 Tr.n. đều là thành phần của cung magma Creta Đà Lạt. Paleogen gồm các đá núi lửa-xâm nhập kiềm kali có tuổi 35-25 Tr.n. phân bố hạn chế. Trầm tích Eocen-Oligocen là lục nguyên vụn đầm lầy châu thổ đồng tạo rift và Miocen-Đệ tứ là trầm tích biển nông sau tạo rift thuộc hệ thống dầu khí, phân bố rộng rãi khắp Biển Đông và các vùng kế cận. Trường basalt khuếch tán Miocen-Đệ tứ thuộc loại tholeiit đến kiềm với vỏ phong hoá bauxit-laterit được thành tạo qua các giai đoạn từ 15.8 Tr.n. đến Đệ tứ phân bố nhiều nơi trên đất liền và ngoài biển. </em></p> <p><em>Tài nguyên địa chất gồm bốn loại chính: 1. Tài nguyên khoáng sản: Khoáng sản kim loại, phi kim loại khá đa dạng về chủng loại và nguồn gốc. Khoáng sản kim loại gồm: Fe, Ni, Cu, Cr là các mỏ công nghiệp như Thạch Khê, Núi Pháo (W-đa kim), Bản Phúc (Ni-Cu-Co). Tài nguyên kim loại cơ bản (Sb, Cu, Pb-Zn, Sn), lớn nhất là Pb-Zn Chợ Điền-Chợ Đồn, Cu-Au kiểu IOCG (mỏ Sn Quyền). Tụ khoáng Sn gốc và sa khoáng ở Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Sơn Dương, Lâm Đồng. Các tụ khoáng kim loại nhẹ (Al, Ti) có tiềm năng lớn như bauxit-laterit (Kz) ở Tây Nguyên và trầm tích P<sub>3</sub> ở Việt Bắc. Ti sa khoáng ven biển chủ yếu ở Ninh Thuận, Bình Thuận. Vàng gốc và sa khoáng phân bố ở nhiều nơi, đặc trưng là các mỏ Bồng Miêu, Phước Sơn. Quặng REE có tiềm năng lớn: loại dạng mạch nhiệt dịch ở Lai Châu, Yên Bái, Lào Cai; loại hấp thụ ion trong vỏ phong hoá đã được thăm dò ở Bến Đền (Lào Cai). Tài nguyên phi kim loại gồm apatit phân bố dọc hữu ngạn Sông Hồng, barit-fluorit có quy mô hạn chế. Nguyên liệu gốm sứ như kaolin, feldspat, diatomit, graphit, talc, sericit, bentonit, sét chịu lửa có quy mô hạn chế. Cát thuỷ tinh, dolomit, quartzit, đá vôi, đá hoa có tiềm năng lớn. Đá quý (rubi, saphia) có ở Yên Bái, Nghệ An. Vật liệu xây dựng gồm nhiều loại phân bố ở nhiều nơi. II. Tài nguyên năng lượng: Than antracit (T<sub>3</sub>) phân bố chủ yếu ở bể Quảng Ninh, có tổng tài nguyên lớn và than lignit phân bố trong các bể Đệ tam trên đất liền và ngoài biển rất có tiềm năng. Quặng Urani trong cát kết T<sub>3</sub> ở bể than Nông Sơn có triển vọng hơn cả. Tài nguyên dầu khí được phát hiện trong các bể trầm tích Đệ tam: Sông Hồng, Phú Khánh, Cửu Long, Nam Côn Sơn, Malay-Thổ Chu, Tư Chính-Vũng Mây có tổng tài nguyên đáng kể. Ngoài ra còn có những biểu hiện khí hydrat ở ngoài khơi biển sâu chưa được thăm dò. III.Tài nguyên nước: Nước nóng xuất lộ một số nơi, nguồn địa nhiệt có ở các bể Đệ tam trong đất liền và ngoài biển. Tài nguyên nước mặt phổ biến ở các lưu vực sông Cửu Long, Sông Hồng và nước dưới đất có trong trầm tích Kz, các đá nứt nẻ, carbonat kart. IV. Di sản địa chất: gồm các Công viên Địa chất Toàn cầu UNESCO: Cao nguyên đá Đồng Văn, Non nước Cao Bằng, Đắk Nông, Lạng Sơn. Ngoài ra còn có các di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long-Cát Bà. Phong Nha-Kẻ Bàng v Hang Sơn Đoòng nổi tiếng thế giới.</em></p>Trần Văn TrịĐào Thái BắcManuel PubellierNguyễn Bá MinhNguyễn HoàngNguyễn Thành VạnNguyễn Văn QuýNguyễn Trọng TínTrần Trọng HoàTrịnh Xuân CườngVũ Trụ
Bản quyền (c) 2025
2025-10-022025-10-02380Tuổi đồng vị U-Pb zircon trong granit phức hệ Sông Chảy, Hoàng Su Phì, Hà Giang và ý nghĩa địa chất của chúng
https://vjol.info.vn/tapchidiachat/article/view/135435
<p><em>Các đá granit thuộc phức hệ Sông Chảy phân bố gần như bao phủ 89% diện tích nghiên cứu. Tổ hợp thạch học các đá chủ yếu gồm: pha 1-granit hai mica, granit muscovit hạt nhỏ bị ép, granitogneis, granit dạng porphyr; pha 2-granit muscovit, granit hai mica dạng khối và pha 3 gồm pegmatit, granit aplit. Zircon được tách từ các đá granitogneis biotit (HS.1168), granit muscovit dạng khối (HS.1248), granit hai mica dạng khối (HS.3054) thuộc pha 1 và pha 2 phức hệ Sông Chảy, khu vực Hoàng Su Phì để xác định tuổi thành tạo bằng phương pháp LA-ICP-MS U-Pb trên zircon và cho giá trị tuổi trung bình <sup>206</sup>Pb/<sup>238</sup>U dao động trong khoảng 431-433 Tr.n (tương ứng với Silur giữa (thời kỳ Wenlock)). Kết hợp với đặc điểm phân đới thanh nét của zircon do đó giá trị tuổi này được cho là tuổi kết tinh của đá.</em></p>La Mai SơnĐinh Xuân HàBùi Tiến DũngVũ Quang LânChu Quốc HuyNguyễn Văn Biên
Bản quyền (c) 2025
2025-10-022025-10-02380Đặc điểm ellipsoid biến dạng các thành tạo biến chất Permi muộn-Trias sớm ở địa khu Kon Tum
https://vjol.info.vn/tapchidiachat/article/view/135436
<p><em>Ellipsoid biến dạng của các đá biến chất khu vực là bản lưu trữ ghi nhận lại chế độ biến dạng kiến tạo ở quy mô khoáng vật. Ở địa khu Kon Tum, các đá biến chất-biến dạng dẻo tuổi Permi-Trias sớm được hình thành dưới sâu lộ ra rộng rãi và ghi nhận lịch sử phát triển kiến tạo lâu dài của khu vực. Để xác định đặc điểm chế độ biến dạng kiến tạo ở địa khu Kon Tum trong giai đoạn Permi muộn-Trias sớm, 20 mẫu đá gneiss, đá phiến kết tinh được lựa chọn từ các phức hệ Khâm Đức, Ngọc Linh và Kan Nack để phân tích và xác định các thông số ellip biến dạng 2 chiều bằng phương pháp Rf/Phi và xác định ellipsoid biến dạng 3 chiều từ tổ hợp 3 mặt cắt định hướng vuông góc với 3 trục biến dạng chính. Kết quả phân tích chỉ ra rằng các đá biến chất khu vực ở địa khu Kon Tum có ellipsoid biến dạng 3 chiều với dạng kéo dài theo phương tây bắc-đông nam và có trục co ngắn cực đại phân bố gần thẳng đứng. Chế độ biến dạng kiến tạo Permi muộn Trias sớm ở địa khu Kon Tum tương ứng với chuyển động kéo dãn cực đại về phía tây bắc đồng thời với chuyển động ép và nâng thẳng đứng.</em></p>Lường Thị Thu HoàiNguyễn Văn VượngBùi Văn ĐôngVũ Tiến ThànhTrần Thị Thanh NhànPhan Đức Lễ
Bản quyền (c) 2025
2025-10-022025-10-02380Đặc điểm phân bố các đồng vị phóng xạ tự nhiên trong nước và trầm tích bề mặt đáy biển thuộc vùng biển Cửa Đáy - Cửa Hới, Thanh Hóa, Vịnh Bắc Bộ, Việt Nam
https://vjol.info.vn/tapchidiachat/article/view/135438
<p><em>Việc xác định đặc điểm các hạt nhân phóng xạ tự nhiên trong nước và trầm tích bề mặt đáy biển là cần thiết để đánh giá các đặc điểm, hiện trạng môi trường phóng xạ biển và tác động trực tiếp đến hệ sinh thái biển cũng như tác động gián tiếp đến sức khỏe con người.</em></p> <p><em>Bờ biển Thanh Hóa, Việt Nam được biết đến với nhiều mỏ, điểm quặng titan và là vùng kinh tế trọng điểm vùng cửa sông ven biển. Nghiên cứu này đã xác định nồng độ hoạt độ các hạt nhân phóng xạ tự nhiên (210Po, 210Pb, 226Ra, 234U và 238U) trong nước biển và (226Ra, 228Ra (232Th) và 40K</em> <em>) trầm tích bề mặt đáy biển tại các trạm với độ sâu lấy mẫu khác nhau từ 0-30m nước thuộc vùng biển Cửa Đáy - Cửa Hới, Thanh Hóa, Vịnh Bắc Bộ, Việt Nam.</em></p> <p><em>Trong nghiên cứu này, hai mươi ba mẫu trầm tích đáy biển tại ven biển Thanh Hóa, Việt Nam đã được thu thập và đo bằng đầu dò Germanium có độ tinh khiết cao (HPGe). Các nồng độ hoạt độ trung bình 226Ra, 228Ra (232Th) và 40K lần lượt là 30,3±1,94, 53,3±2,98 và 673±38,5 Bq.kg<sup>-1</sup>. Có một mối tương quan chặt chẽ giữa các hạt nhân phóng xạ và tương quan với hàm lượng của bột và sét, điều này cho thấy rằng các hạt nhân phóng xạ này có thể có nguồn gốc vật chất tương tự. Trong đó kích thước hạt của trầm tích đáy biển trong khu vực nghiên cứu có ảnh hưởng đáng kể đến sự phân bố các nồng độ hoạt độ hạt nhân phóng xạ tự nhiên.</em></p> <p><em>Các hạt nhân phóng xạ tự nhiên (210Po, 210Pb, 226Ra, 234U và 238U) trong nước biển có nồng độ hoạt độ trung bình ở các trạm lấy mẫu khác nhau và độ sâu nước biển lần lượt 0,77, 0,78, 9,09, 49,8, và 54,3 mBq.L<sup>-1</sup>. Kết quả cho thấy sự mất cân bằng giữa 210Po và 210Pb và các tỷ lệ 210Po/210Pb khác nhau theo chiều sâu. Các hoạt độ 226Ra, 234U và 238U cao có thể liên quan đến nguồn gốc từ các titan dọc theo các nguồn trầm tích cửa sông, ven biển. Có mối quan hệ giữa các hoạt độ 226Ra và 210Pb với độ sâu lấy mẫu, khoảng cách từ bờ, trong khi nó không đáng kể được đối với 210Po, 234U và 238U.</em></p> <p><em>Phân bố không gian được chia thành hai vùng, trong đó vùng cửa sông (gần bờ) hoạt độ hạt nhân phóng xạ cao hơn ở vùng ngoài khơi. Kết quả hỗ trợ kết luận rằng nguồn gốc vật liệu trầm tích có liên quan đến các cửa sông và được vận chuyển từ các nguồn đất liền.</em></p>Bùi Chí TiếnQuách Đức TínDương Văn HàoNguyễn Minh QuảngNguyễn Văn Dũng
Bản quyền (c) 2025
2025-10-022025-10-02380Điều kiện thành tạo quặng vàng mỏ Xà Lời, đới Trường Sơn, Việt Nam dựa trên kết quả phân tích bao thể
https://vjol.info.vn/tapchidiachat/article/view/135451
<p><em>Nghiên cứu bao thể trong khoáng vật thạch anh mỏ vàng Xà Lời xã Vĩnh Ô, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, thuộc đới Trường Sơn, miền Trung Việt Nam, nhằm làm sáng tỏ </em><em>đ</em><em>i</em><em>ề</em><em>u ki</em><em>ệ</em><em>n hóa lý thành t</em><em>ạ</em><em>o ngu</em><em>ồ</em><em>n dung dịch nhi</em><em>ệ</em><em>t d</em><em>ị</em><em>ch hình thành trong quá trình thành t</em><em>ạ</em><em>o qu</em><em>ặ</em><em>ng vàng. Các bao thể khí–lỏng được xác định có nhiệt độ đồng nhất dao động từ 180°C đến 370°C, tập trung chủ yếu trong khoảng 240–300°C, phản ánh điều kiện nhiệt dịch trung bình đến cao phù hợp với môi trường biến chất sâu. Độ muối của dung dịch dao động từ 4.97 đến 9.88 wt% NaCl eq. (phổ biến 5–7 wt%), và mật độ tính toán từ 1.28 đến 1.35 g/cm³ (trung bình 1.31 g/cm³), đặc trưng cho các hệ nhi</em><em>ệ</em><em>t dịch nghèo muối đến trung bình, giàu H₂O, hình thành trong điều kiện nhiệt độ–áp cao. Áp suất hình thành ước tính khoảng 64.2–70.3 MPa, tương ứng độ sâu 4.66–4.95 km, trong khi pH của ngu</em><em>ồ</em><em>n dung dịch dao động từ 6.22 đến 6.33 (trung bình 6.27), phản ánh môi trường trung tính yếu, thuận lợi cho sự vận chuyển và kết tủa vàng cùng với các khoáng v</em><em>ậ</em><em>t sulfua.</em></p> <p><em>Các đặc điểm trên cho thấy nguồn dung dịch mỏ Xà Lời mang đặc trưng của kiểu mỏ vàng tạo núi, hình thành trong điều kiện biến chất trung bình, áp suất cao và chịu ảnh hưởng của kiến tạo nén ép mạnh. Kết quả nghiên cứu không chỉ góp phần làm sáng tỏ nguồn gốc và cơ chế tích tụ vàng mỏ Xà Lời mà còn cung cấp cơ sở khoa học định hướng cho công tác tìm kiếm khoáng sản vàng trong khu vực đới Trường Sơn.</em></p>Ngô Xuân ĐắcTrịnh Hải SơnBùi Thế AnhNguyễn Thanh TùngNguyễn Thị Hồng HạnhNguyễn Đức TháiPhạm Đắc Sinh
Bản quyền (c) 2025
2025-10-022025-10-02380Chuẩn hóa dữ liệu phân tích thành phần hóa học của trầm tích bằng XRF phục vụ nghiên cứu biến đổi môi trường: Lấy ví dụ cột trầm tích tại cửa Ba Lạt
https://vjol.info.vn/tapchidiachat/article/view/135457
<p><em>Nghiên cứu áp dụng kỹ thuật chuẩn hóa theo tỷ lệ logarit trung tâm (clr) và tỷ lệ logarit từng cặp nguyên tố (pwlr) trên bộ dữ liệu thành phần hóa học phân tích bằng các phương pháp XRF (XRF quét lõi - XRF-CS và XRF cầm tay - pXRF) từ cột trầm tích nguyên dạng tại cửa Ba Lạt. Kết quả cho thấy sau khi được chuẩn hóa clr, các nguyên tố hóa học trong hai bộ dữ liệu phân tích từ các phương pháp XRF đều thể hiện cùng xu hướng với nhau, mặc dù bộ dữ liệu thô có những điểm khác biệt. Các nguyên tố hoá học trong cột trầm tích ở cửa Ba Lạt thể hiện rõ việc loại bỏ được các ảnh hưởng của đặc điểm trầm tích, hàm lượng nước, vật chất hữu cơ và thông số kỹ thuật của từng thiết bị phân tích, tạo được bộ dữ liệu (sau chuẩn hoá) có thể sử dụng hiệu quả trong phân tích thống kê đa biến thể hiện ở các mối tương quan địa hoá đáng tin cậy. Cùng với kỹ thuật clr, tỷ lệ logarit từng cặp nguyên tố (pwlr) cũng có khả năng loại bỏ được các yếu tố gây ‘nhiễu’ và khắc phục được tính bất đối xứng từ dữ liệu phân tích của các cặp nguyên tố nhạy cảm với môi trường. Các kỹ thuật clr và pwlr đã được áp dụng thành công đối với hai bộ dữ liệu phân tích XRF độc lập cho cùng cột trầm tích ở cửa Ba Lạt, và đã nhận diện được sự kiện bão lũ lịch sử năm 1971 trên lớp trầm tích dị thường ở độ sâu 65-68 cm. Có thể thấy xử lý các dữ liệu thành phần hóa học được phân tích bằng các thiết bị XRF bằng kỹ thuật clr và pwlr là bước cần thiết và quan trọng trong nghiên cứu trầm tích.</em></p>Nguyễn Hồng QuânNguyễn Thùy DươngĐinh Xuân ThànhTrần Thị DungNguyễn Đình TháiNguyễn Quốc TuấnNguyễn Văn Hướng
Bản quyền (c) 2025
2025-10-022025-10-02380Nghiên cứu các đá trầm tích nước sâu tuổi Devon muộn – Carbon sớm ở Miền Trung Việt Nam: ý nghĩa địa tầng và kiến tạo khu vực
https://vjol.info.vn/tapchidiachat/article/view/135702
<p><em>Bài báo tiến hành phân tích chi tiết hai mặt cắt đá trầm tích tướng vận chuyển khối vùng nước sâu (DWMTD) (Quảng Trạch, Hương Sơn) và hai mặt cắt trầm tích silic chứa vi hóa thạch (Minh Hóa, Đức Thọ) ở miền Trung Việt Nam. Trên bình đồ kiến tạo khu vực, vùng này nằm trong Đai uốn nếp Trường Sơn (TSFB), thuộc rìa Đông Bắc địa mảng Đông Dương. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có một hệ thống sườn lục địa nước sâu có phương Tây Bắc – Đông Nam tồn tại ở đây trong suốt giai đoạn Devon muộn – Carbon sớm. Hóa thạch Trùng tia (Radiolaria) và Vỏ nón (Tentaculites) từ đá silic (chert) trong hệ tầng Ngọc Lâm (mặt cắt Minh Hóa) xác định tuổi trầm tích là Devon muộn, trong khi các đá silic trong hệ tầng Thiên Nhẫn (mặt cắt Đức Thọ) chứa Trùng tia có tuổi Tournai – Vise sớm (Carbon sớm). Số liệu địa hóa, thạch học và hóa thạch chỉ ra rằng các đá silic ở Minh Hóa có lẽ hình thành trong môi trường gần chân lục địa, còn đá silic ở Đức Thọ tích tụ ở nông hơn trên sườn lục địa. Hai mặt cắt DWMTD, phân bố ở giữa hai mặt cắt Minh Hóa và Đức Thọ, củng cố thêm bối cảnh rìa lục địa này. Hệ thống này kéo dài sang Trung Lào, tuy nhiên chúng tương phản với Đai uốn nếp Loei (rìa tây địa mảng Đông Dương), Đông Bắc Thái Lan – nơi xuất hiện một vỏ đại dương trong giai đoạn Devon muộn – Carbon sớm, và hoạt động núi lửa dạng cung liên quan đến hút chìm trong kỷ Carbon. Tại TSFB, sự vắng mặt của một vỏ đại dương thực thụ có lẽ đã ngăn cản quá trình hút chìm và hoạt động magma cung tuổi Carbon.</em></p>Nguyễn Minh QuyềnFeng Qing LaiZhao Tian YuBùi Thị Thu HiềnNguyễn Quốc HưngHoàng Thị ThoaĐặng Hương Giang
Bản quyền (c) 2025
2025-10-022025-10-02380Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phân tích dị thường địa vật lý từ dữ liệu điện từ
https://vjol.info.vn/tapchidiachat/article/view/135704
<p><em>Dữ liệu trường điện từ đóng vai trò cực kì quan trọng trong biểu diễn cấu trúc địa chất và đối tượng dị thường tồn tại từ độ sâu nông đến hàng chục kilomet. Ứng dụng Trí tuệ nhân tạo vào quy trình phân tích dữ liệu địa vật lý này có thể mang đến những lợi ích thiết thực như là, cung cấp kết quả nhanh, chính xác và tiết kiệm nguồn lực của chuyên gia. Trong nội dung nghiên cứu, chúng tôi tập trung vào xây dựng bộ dữ liệu điện từ tần số thấp (từ tellua) hoàn chỉnh bằng việc bổ sung các dữ liệu đo đạc còn thiếu và xác định các đối tượng dị vật ngầm từ dữ liệu điện từ tần số cao (ra đa xuyên đất) theo cơ chế phản xạ. Mô hình trí tuệ tổng quát được xây dựng dựa trên các lớp mạng nơ ron liên kết với nhau, như là MLP và CNN, để thực hiện các công việc xây dựng bộ dữ liệu hoàn chỉnh trường điện từ tại khu vực khoáng sản Olympic Dam, Úc và phân biệt dị vật ngầm tán xạ ra đa xuyên đất tại tỉnh Đồng Nai, Việt Nam.</em></p>Lê Văn Anh CườngNguyễn Tiến HóaVũ Trọng TấnĐinh Quốc TuấnVõ Mạnh KhươngVũ Đức TínhTrần Hải NamNguyễn Văn ThuậnNguyễn Thị Hồng HàHuỳnh Văn Tuấn
Bản quyền (c) 2025
2025-10-022025-10-02380