https://vjol.info.vn/tapchikinhtexaydung/issue/feedTạp chí Kinh tế xây dựng2026-04-03T12:35:07+07:00Nguyễn Minhtapchiktxd@gmail.comOpen Journal Systems<p><a href="https://kinhtexaydung.gov.vn/" target="_blank" rel="noopener"><strong>Tạp chí của Viện Kinh tế xây dựng</strong></a></p>https://vjol.info.vn/tapchikinhtexaydung/article/view/136756Đề xuất khung Mô hình thông tin tài sản (AIM) cho quản lý vận hành đường sắt đô thị tại Việt Nam2026-04-03T05:39:17+07:00Tạ Ngọc Bìnhdautuso@gmail.comNguyễn Hữu Phátdautuso@gmail.comNguyễn Quốc Bảodautuso@gmail.com<p style="text-align: justify;">Công trình đường sắt đô thị là hệ thống hạ tầng phức tạp, tích hợp nhiều chuyên ngành và có vòng đời khai thác kéo dài hàng chục năm. Một trong những thách thức lớn nhất trong giai đoạn khai thác là sự đứt gãy thông tin kỹ thuật tại bàn giao giữa thi công và vận hành – biểu hiện đặc trưng là các mô hình BIM hoàn công có độ chính xác hình học cao nhưng thiếu hơn 80% thông tin phi hình học thiết yếu cho quản lý tài sản. Bài báo này đề xuất Khung Mô hình Thông tin Tài sản (Asset Information Model – AIM) cho quản lý vận hành đường sắt đô thị tại Việt Nam. Trên cơ sở tổng hợp kinh nghiệm từ ba dự án quốc tế tiêu biểu (Rail Baltica – Châu Âu, Metro Hạ Môn – Trung Quốc, Maha Metro – Ấn Độ) và phân tích khoảng trống năng lực tại Tuyến Metro số 1 (Bến Thành – Suối Tiên) theo bốn trụ cột (Chính sách, Con người, Quy trình, Công nghệ), nghiên cứu đề xuất khung AIM gồm ba thành phần cốt lõi: (1) cấu trúc dữ liệu ba lớp (hình học, phi hình học, tài liệu); (2) hệ thống định danh và mã hóa tài sản tuân thủ Uniclass 2015 và ISO 19650; và (3) lộ trình chuyển đổi số ba giai đoạn từ chuẩn hóa dữ liệu đến tích hợp hệ thống. Kết quả nghiên cứu cung cấp nền tảng kỹ thuật cụ thể, có thể áp dụng trực tiếp tại bối cảnh Việt Nam, đặt nền móng cho hướng nghiên cứu tiếp theo về kiểm chứng thực tiễn và mở rộng sang các tuyến Metro mới.</p>2026-03-25T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Kinh tế xây dựnghttps://vjol.info.vn/tapchikinhtexaydung/article/view/137270Mô hình phát triển nhà ở xã hội tại Singapore (Chương trình HDB): Phân tích kinh nghiệm và khả năng ứng dụng tại Việt Nam2026-04-03T05:59:13+07:00Nguyễn Thị Huyền Giangvienkinhtexd@gmail.comNguyễn Ngọc Anhvienkinhtexd@gmail.comNguyễn Quốc Toảnvienkinhtexd@gmail.comNguyễn Thị Thúyvienkinhtexd@gmail.com<p>Bài báo phân tích mô hình phát triển nhà ở xã hội (NOXH) tại Singapore theo chương trình Housing and Development Board (HDB) nhằm rút ra bài học và đánh giá khả năng ứng dụng cho Việt Nam. Nghiên cứu áp dụng phân tích định tính và so sánh đối chiếu chính sách, kết hợp tham vấn ý kiến chuyên gia. Kết quả cho thấy Việt Nam tồn tại bốn mô hình phát triển NOXH, trong đó mô hình dự án tập trung (đặc biệt vốn ngoài ngân sách) giữ vai trò chủ đạo nhưng còn phân mảnh theo dự án và yếu về điều phối, quản trị sau đầu tư. Trong khi đó, HDB là mô hình Nhà nước dẫn dắt xuyên suốt từ quy hoạch tích hợp đến quản trị sau đầu tư. Từ so sánh này, bài báo đề xuất mô hình kết hợp theo hướng Nhà nước kiến tạo - doanh nghiệp thực thi, tập trung vào: (i) chủ động điều phối quỹ đất sạch gắn hạ tầng xã hội và giao thông công cộng; (ii) thiết lập nguồn vốn dài hạn cho NOXH; và (iii) hoàn thiện cơ chế giám sát phân bổ, hạn chế chuyển nhượng để bảo đảm công bằng tiếp cận và tính bền vững.</p>2026-03-25T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Kinh tế xây dựnghttps://vjol.info.vn/tapchikinhtexaydung/article/view/137277Mô hình thông tin công trình (BIM) trong quản lý chi phí: Tiếp cận theo chu kỳ thi công dự án xây dựng2026-04-03T11:58:49+07:00Nguyễn Minh Nhấtvienkinhtexd@gmail.com<p>Bài viết tập trung phân tích vai trò của Mô hình Thông tin Công trình (BIM) trong quản lý chi phí dự án xây dựng theo toàn bộ chu kỳ thi công, bao gồm các giai đoạn: thiết kế kỹ thuật, lựa chọn nhà thầu, thi công, nghiệm thu và quyết toán. BIM được xem như một nền tảng dữ liệu tích hợp, cho phép bóc tách khối lượng chính xác, phát hiện xung đột kỹ thuật, theo dõi tiến độ thực tế, kiểm soát các phát sinh và tăng cường tính minh bạch trong quy trình thanh toán. Thông qua việc tổng hợp và phân tích các tài liệu trong và ngoài nước, bài viết làm rõ tiềm năng và hạn chế của việc ứng dụng BIM tại Việt Nam, đặc biệt là các vấn đề về thiếu chuẩn hóa dữ liệu, năng lực triển khai không đồng đều và hạn chế trong kết nối giữa các bộ phận chuyên môn. Trên cơ sở đó, các giải pháp định hướng được đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng BIM trong kiểm soát chi phí, nhấn mạnh tầm quan trọng của phối hợp tổ chức, chính sách hỗ trợ và nâng cao năng lực triển khai đồng bộ từ khâu thiết kế đến hoàn công.</p>2026-03-25T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Kinh tế xây dựnghttps://vjol.info.vn/tapchikinhtexaydung/article/view/137287Chuẩn hoá quy trình và phương pháp kiểm toán dự án đầu tư xây dựng: Trường hợp nghiên cứu tại Hãng kiểm toán và định giá ASCO2026-04-03T06:19:02+07:00Đào Thanh Túvienkinhtexd@gmail.comNguyễn Thị Thu Hằngvienkinhtexd@gmail.comNguyễn Trần Bảo Ngọcvienkinhtexd@gmail.comHoàng Thị Thuvienkinhtexd@gmail.com<p>Kiểm toán dự án đầu tư xây dựng đòi hỏi tuân thủ chuẩn mực và pháp luật, trong khi hồ sơ lớn, dự án phức tạp và thời gian hạn chế đòi hỏi các đơn vị kiểm toán độc lập phải có quy trình và phương pháp kiểm toán chặt chẽ, khoa học. Nghiên cứu tình huống tại ASCO dựa trên phân tích quy trình và phỏng vấn nhân sự chủ chốt cho thấy đơn vị đã chuẩn hóa quy trình bằng mã hóa giai đoạn–công việc–thời gian–biểu mẫu, áp dụng tiếp cận dựa trên rủi ro, hỗ trợ soát xét và số hóa hồ sơ. Tuy nhiên, quy trình còn cồng kềnh cho dự án nhỏ, kiểm tra chi tiết tốn nguồn lực, một số hướng dẫn chưa thống nhất, từ đó bài báo đề xuất một số định hướng cải thiện cho công ty cũng như các đơn vị kiểm toán độc lập nói chung bao gồm: (i) chuẩn hoá đầu ra và điểm kiểm soát; (ii) modun hoá quy trình và chương trình kiểm toán theo quy mô-rủi ro dự án và loại công trình; (iii) thiết kế chiến lược kiểm toán theo rủi ro/trọng yếu và chuẩn hoá cơ chế chọn mẫu, mở rộng kiểm tra; (iv) chuẩn hoá bộ biểu mẫu và cơ chế soát xét nhằm giảm sự khác biệt giữa các đội nhóm và tăng khả năng đào tạo; (v) đẩy mạnh số hoá và ứng dụng công nghệ, trí tuệ nhân tạo theo lộ trình hỗ trợ – chuẩn hoá – kiểm soát, không thay thế xét đoán nghề nghiệp.</p>2026-03-25T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Kinh tế xây dựnghttps://vjol.info.vn/tapchikinhtexaydung/article/view/137326Quản lý hợp đồng xây dựng – Nhìn từ góc độ phòng chống lãng phí và tiêu cực2026-04-03T09:21:15+07:00Nguyễn Đình Hiếuvienkinhtexd@gmail.comNguyễn Đình Hiếuvienkinhtexd@gmail.comBùi Thị Ngọc Anhvienkinhtexd@gmail.comNguyễn Ngọc Hưngvienkinhtexd@gmail.com<p>Quản lý hợp đồng xây dựng trong khuôn khổ pháp luật về xây dựng đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu rủi ro, bảo đảm hiệu quả thực hiện dự án và tạo cơ sở giải quyết tranh chấp. Trong bối cảnh các dự án xây dựng ngày càng phức tạp, yêu cầu đặt ra là phải có các chiến lược quản lý hợp đồng chặt chẽ, hiệu quả nhằm kiểm soát rủi ro về tài chính, kỹ thuật và pháp lý. Thực tiễn cho thấy nhiều dự án bị đội vốn, chậm tiến độ hoặc phát sinh tranh chấp chủ yếu bắt nguồn từ những hạn chế trong công tác quản lý hợp đồng. Vì vậy, nhìn từ góc độ phòng chống lãng phí và tiêu cực, việc áp dụng các biện pháp quản lý hợp đồng một cách chủ động, xuyên suốt là công cụ quản trị rủi ro mang tính chủ động.</p>2026-03-25T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Kinh tế xây dựnghttps://vjol.info.vn/tapchikinhtexaydung/article/view/137331Đánh giá thực trạng quản lý và sử dụng đất phục vụ phát triển không gian đô thị tại thành phố Hà Nội2026-04-03T09:50:00+07:00Hoàng Bảo Trâmvienkinhtexd@gmail.comHoàng Vân Giangvienkinhtexd@gmail.com<p>Bài báo đánh giá thực trạng quản lý và sử dụng đất phục vụ phát triển không gian đô thị tại thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2019 - 2024, dựa trên số liệu hai kỳ kiểm kê đất đai gần nhất của thủ đô. Nghiên cứu tập trung phân tích sự biến động cơ cấu các nhóm đất chính, đặc biệt là cơ cấu sử dụng các loại đất phi nông nghiệp. Kết quả cho thấy, dù tổng diện tích tự nhiên của Hà Nội không thay đổi, cơ cấu sử dụng đất đã có sự chuyển dịch rõ nét theo hướng gia tăng đất phi nông nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển đô thị, hạ tầng và dịch vụ. Tuy nhiên, quá trình này cũng bộc lộ một số tồn tại và hạn chế đặt ra cần được giải quyết. Trên cơ sở đánh giá thực trạng và bám sát các Quyết định chiến lược về quy hoạch Thủ đô, bài báo đề xuất các nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện cấu trúc không gian đô thị, nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng đất và thúc đẩy phát triển không gian đô thị Hà Nội theo hướng bền vững trong tương lai.</p>2026-03-25T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Kinh tế xây dựnghttps://vjol.info.vn/tapchikinhtexaydung/article/view/137333Vai trò của cơ sở dữ liệu đất đai trong hoạt động kinh doanh bất động sản của doanh nghiệp (Trong bối cảnh chuyển đổi số tại Việt Nam)2026-04-03T12:32:38+07:00Tăng Thị Thanh Nhànvienkinhtexd@gmail.com<p>Trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia, dữ liệu được xác định là nguồn tài nguyên quan trọng, trong đó cơ sở dữ liệu (CSDL) đất đai giữ vai trò nền tảng đối với quản lý nhà nước và sự phát triển của thị trường bất động sản. Đối với doanh nghiệp kinh doanh bất động sản (BĐS), dữ liệu đất đai là yếu tố đầu vào then chốt, ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định đầu tư, hiệu quả kinh doanh và khả năng quản trị rủi ro. Bài báo tập trung phân tích vai trò của CSDL đất đai trong hoạt động kinh doanh BĐS của doanh nghiệp; làm rõ cơ sở lý luận, kinh nghiệm thực tiễn; đánh giá thực trạng khai thác dữ liệu đất đai tại Việt Nam hiện nay, đặc biệt là tại các Thành phố lớn; từ đó chỉ ra những tồn tại, nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy hiệu quả CSDL đất đai trong quá trình chuyển đổi số của doanh nghiệp kinh doanh BĐS, góp phần phát triển thị trường BĐS minh bạch, bền vững.</p>2026-03-25T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Kinh tế xây dựnghttps://vjol.info.vn/tapchikinhtexaydung/article/view/137335Áp dụng BIM trong các dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đường sắt2026-04-03T08:57:44+07:00Trần Thị Thu Hàvienkinhtexd@gmail.com<p>Bài báo trình bày sự cần thiết và những lợi ích nổi bật của việc ứng dụng mô hình thông tin công trình (BIM) trong các dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đường sắt. Đây là một xu hướng tất yếu trong bối cảnh hiện đại hóa hạ tầng giao thông, đặc biệt khi BIM đã chứng minh hiệu quả vượt trội trong việc nâng cao chất lượng thiết kế, thi công và quản lý vận hành công trình. Bài viết cũng phân tích kinh nghiệm triển khai BIM tại một số quốc gia phát triển, từ đó chỉ ra các khó khăn và thách thức thực tiễn trong quá trình áp dụng vào lĩnh vực đường sắt. Trên cơ sở đánh giá thực trạng triển khai BIM tại Việt Nam hiện nay, bài báo tiến hành phân tích SWOT để làm rõ điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức. Cuối cùng, bài báo đề xuất một số giải pháp và kiến nghị cụ thể nhằm thúc đẩy việc áp dụng BIM hiệu quả, phù hợp với điều kiện kỹ thuật, pháp lý và nguồn lực của Việt Nam.</p>2026-03-25T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Kinh tế xây dựnghttps://vjol.info.vn/tapchikinhtexaydung/article/view/137338Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng Prefab (Tiền chế) và DfMA (Thiết kế cho sản xuất và lắp ráp) trong đầu tư xây dựng tại Việt Nam2026-04-03T12:35:07+07:00Hoàng Kim Ngọcvienkinhtexd@gmail.com<p>Trong bối cảnh tốc độ đô thị hóa nhanh, áp lực về tiến độ, chi phí và cam kết giảm phát thải (Net Zero 2050), Prefab (Tiền chế) và DfMA (Thiết kế cho sản xuất và lắp ráp) trở thành giải pháp quan trọng cho ngành xây dựng. Bài viết này làm rõ khái niệm và nguyên tắc của Prefab và DfMA, phân tích tác động trên các khía cạnh quản lý dự án, đầu tư công – tư, thiết kế, thi công, đấu thầu – hợp đồng, chi phí đầu tư và chi phí vòng đời, chất lượng, tiến độ, an toàn, PCCC và môi trường. Trên cơ sở các ví dụ thực tiễn tiêu biểu (Singapore, Mỹ, New Zealand, Việt Nam), phân tích SWOT và đề xuất các giải pháp chính sách, kỹ thuật và thị trường để thúc đẩy ứng dụng Prefab/DfMA hiệu quả. Kết luận khẳng định: mặc dù chi phí đầu tư ban đầu có thể cao hơn, nhưng khi tính chi phí vòng đời và lợi ích phi chi phí (an toàn, môi trường, tiến độ), Prefab/DfMA là lựa chọn tối ưu cho các dự án có yêu cầu chất lượng, tiến độ và an toàn cao.</p>2026-03-25T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Kinh tế xây dựng