Tạp chí Người xây dựng https://vjol.info.vn/tapchinguoixaydung <p><strong>Tạp chí của Tổng hội Xây dựng Việt Nam</strong></p> vi-VN Tạp chí Người xây dựng Dự đoán ứng xử uốn của dầm bê tông cốt thép với polyme cốt sợi carbon và cốt liệu tái chế sử dụng mô hình KAN https://vjol.info.vn/tapchinguoixaydung/article/view/138626 <p>Việc tích hợp cốt liệu bê tông tái chế (RCA) và polyme gia cường sợi carbon (CFRP) trong dầm bê tông cốt thép mang đến một giải pháp kết cấu bền vững. Tuy nhiên, các tương tác phi tuyến giữa những vật liệu không đồng nhất - bao gồm sự thay đổi tỷ lệ cốt liệu tái chế, muội silic (silica fume) và tro bay - đặt ra những thách thức mô hình hóa đáng kể đối với các phương pháp tính toán truyền thống. Nghiên cứu này đề xuất một khung dự đoán mới dựa trên mạng Kolmogorov-Arnold (KAN) để ước lượng toàn bộ đáp ứng tải trọng - chuyển vị của các dầm composite này. Khác với các mạng nơ-ron truyền thẳng (Multi-Layer Perceptrons) thông thường, mạng KAN sử dụng các hàm kích hoạt B-spline có thể học được đặt trên các cạnh của mạng lưới, mang lại khả năng xấp xỉ vượt trội đối với các quy luật cấu thành (quan hệ ứng suất - biến dạng) phức tạp. Sử dụng một tập dữ liệu thực nghiệm gồm 4.851 mẫu, kiến trúc mô hình – cụ thể là kích thước lưới và bậc của spline - đã được tối ưu hóa thông qua thuật toán Tree-structured Parzen Estimator (TPE). Các kết quả chứng minh rằng mô hình KAN sau tối ưu đạt được hệ số xác định (R²) là 0,974 trên tập dữ liệu kiểm tra độc lập, giúp giảm 80,9% sai số toàn phương trung bình (MSE) so với cấu hình cơ sở. Nghiên cứu này khẳng định mạng KAN cung cấp một giải pháp thay thế mạnh mẽ, đạt độ chính xác cao cho các mô hình "hộp đen" tiêu chuẩn trong việc đánh giá độ tin cậy kết cấu của cơ sở hạ tầng bền vững.</p> ThS. Nguyễn Thành Quí Bản quyền (c) 2026-04-06 2026-04-06 tháng 3 14 14 Sử dụng nước biển và cát biển trong kết cấu bê tông, thực trạng và triển vọng phát triển https://vjol.info.vn/tapchinguoixaydung/article/view/138633 <p>Bê tông là vật liệu xây dựng được sử dụng phổ biến nhất hiện nay nhờ tính linh hoạt, độ bền và hiệu quả kinh tế. Quá trình đô thị hóa và phát triển hạ tầng nhanh chóng, đặc biệt tại châu Á, đã làm gia tăng mạnh nhu cầu bê tông, qua đó tạo áp lực lớn lên tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Trong bê tông truyền thống, cát sông và nước ngọt là các thành phần thiết yếu. Tuy nhiên, việc khai thác cát sông kéo dài và tình trạng khan hiếm nước ngọt do biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn đang gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng. Trước bối cảnh đó, việc tìm kiếm các vật liệu thay thế bền vững trở thành yêu cầu cấp thiết. Cát biển đã được sử dụng tại một số quốc gia như Vương quốc Anh, Nhật Bản và Trung Quốc với hệ thống tiêu chuẩn và quy trình kiểm soát chất lượng tương đối hoàn chỉnh [1–3]. <br>Tại Việt Nam, đối mặt với sự suy giảm nghiêm trọng về nguồn cát sông và nước ngọt thì với đường bờ biển dài trên 3.260 km, nguồn cát biển và nước biển dồi dào sẽ trở thành tài nguyên phong phú cho việc phát triển bê tông sử dụng cát biển và nước biển, đặc biệt cho các công trình ven biển và hải đảo. Tuy nhiên, môi trường biển với hàm lượng ion clorua và sunfat cao có thể thúc đẩy ăn mòn cốt thép, làm suy giảm độ bền lâu dài của công trình. Mặc dù việc khử muối cát biển bằng nước ngọt có thể hạn chế rủi ro này, giải pháp đó làm tăng chi phí và tiêu thụ thêm nguồn tài nguyên khan hiếm. Trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu đã đánh giá khả năng sử dụng trực tiếp cát biển và nước biển trong bê tông, song các kết quả còn phân tán, chưa phản ánh đầy đủ điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm và môi trường xâm thực ven biển Việt Nam.<br>Vì vậy, bài báo này thực hiện một cách tổng quan có hệ thống các nghiên cứu về bê tông sử dụng cát biển và nước biển, tập trung vào tính chất cơ học, cường độ, độ bền lâu, ăn mòn cốt thép và khả năng ứng dụng cốt sợi polyme gia cường (FRP), nhằm xác định các khoảng trống nghiên cứu và đề xuất định hướng phát triển phục vụ xây dựng hạ tầng ven biển và hải đảo theo hướng bền vững tại Việt Nam.</p> ThS. Nguyễn Văn Khánh TS. Vũ Ngọc Sơn Bản quyền (c) 2026-04-06 2026-04-06 tháng 3 20 20 Nghiên cứu chuẩn hóa quy trình thi công cho công tác xây và hoàn thiện trong công trình dân dụng https://vjol.info.vn/tapchinguoixaydung/article/view/138646 <p>Trong bối cảnh các dự án xây dựng dân dụng ngày càng yêu cầu cao về chất lượng, tiến độ và kiểm soát rủi ro, việc chuẩn hóa quy trình thi công trở thành một yếu tố quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hiện trường. Nghiên cứu này tập trung vào việc xây dựng hệ thống quy trình thi công chuẩn hóa cho các công tác xây và hoàn thiện phổ biến, bao gồm xây tường, tô tường, chống thấm, cán nền, lát nền, ốp gạch và trần thạch cao. <br>Phương pháp nghiên cứu được triển khai theo hướng phân tích quy trình thực tế, chuẩn hóa các bước thi công, xác định các điểm kiểm soát chất lượng và tích hợp thành một hệ thống quy trình thống nhất. Kết quả nghiên cứu là bộ quy trình chuẩn hóa chi tiết, có thể áp dụng trực tiếp trong quản lý thi công và nghiệm thu hiện trường.</p> ThS. Võ Văn Dần Bản quyền (c) 2026-04-06 2026-04-06 tháng 3 27 27 Ảnh hưởng của tương tác đất-kết cấu đến gia tốc đỉnh của công trình nhiều tầng chịu tải trọng gió https://vjol.info.vn/tapchinguoixaydung/article/view/138652 <p>Bài báo nghiên cứu ảnh hưởng của tương tác đất-kết cấu (SSI - Soil-Structure Interaction) đến gia tốc đỉnh của công trình nhà nhiều tầng dưới tác động của tải trọng gió, thông qua việc xem xét sự tương tác giữa đất nền, hệ móng và kết cấu bên trên. Kết quả phân tích số cho thấy độ cứng nền đất, biểu thị qua vận tốc sóng cắt Vs, là tham số ảnh hưởng lớn nhất đến gia tốc đỉnh của công trình, gia tốc giảm đáng kể khi Vs tăng và tiệm cận dần giá trị của trường hợp móng ngàm. Ảnh hưởng của SSI thể hiện rõ rệt đối với nền đất mềm, do đó việc bỏ qua tương tác này có thể dẫn đến ước tính thiếu chính xác về phản ứng động của kết cấu nhà nhiều tầng. Khoảng cách cọc trong hệ móng bè–cọc có ảnh hưởng đáng kể đến gia tốc đỉnh trong điều kiện đất mềm, trong khi độ mảnh của cọc ảnh hưởng nhỏ đến gia tốc đỉnh trong điều kiện đất mềm và cứng. Chiều dày bè móng có vai trò không đáng kể đối với gia tốc đỉnh trong phạm vi khảo sát. Các kết quả nghiên cứu có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho việc ước tính gia tốc đỉnh và thực hành thiết kế nhà nhiều tầng chịu tải trọng gió trong các điều kiện nền đất khác nhau.</p> KS. Nguyễn Trung Kiên PGS.TS. Vũ Tân Văn Bản quyền (c) 2026-04-06 2026-04-06 tháng 3 34 34 Cân bằng thời gian và chi phí trong thi công các dự án đầu tư công bằng thuật toán tối ưu hóa đa mục tiêu https://vjol.info.vn/tapchinguoixaydung/article/view/138660 <p>Trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam, nguồn lực đầu tư công đang khẳng định vai trò quan trọng trong việc tạo nên tăng trưởng và đây vẫn sẽ là động lực hàng đầu để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026 – 2030. Đối với các dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn đầu tư công, việc cân bằng giữa thời gian thi công và chi phí đầu tư đang trở thành một vấn đề quan trọng trong quản lý dự án thay vì chỉ tập trung vào yếu tốt chí phí như trước đây. Hai mục tiêu này có mối quan hệ cân bằng phức tạp, đòi hỏi các phương pháp tối ưu hóa hiệu quả ngay từ giai đoạn lập kế hoạch. Nghiên cứu này đề xuất một phương pháp tiếp cận mới dựa trên thuật toán tối ưu hóa đa mục tiêu cộng sinh tìm kiếm (MOSOS) nhằm tối ưu hóa đồng thời thời gian và chi phí trong các dự án đầu tư công. Mô hình được xây dựng để xác định tập nghiệm Pareto tối ưu, phản ánh rõ mối quan hệ cân bằng giữa hai mục tiêu. Phương pháp đề xuất được áp dụng cho một dự án xây dựng thực tế và so sánh với các thuật toán tiến hóa đa mục tiêu phổ biến bao gồm đa mục tiêu bầy đàn, thuật toán di truyền sắp xếp không trội. Kết quả thực nghiệm cho thấy MOSOS có khả năng tìm kiếm hiệu quả và tạo ra tập nghiệm Pareto chất lượng cao, góp phần nâng cao hiệu quả tối ưu hóa thời gian - chi phí trong quản lý dự án đầu tư công.</p> ThS. Khải Quốc Bình NCS. Trần Nhật Quang PGS.TS Trần Đức Học Bản quyền (c) 2026-04-06 2026-04-06 tháng 3 43 43 Kiểm soát gia tốc dao động của mặt cầu đường sắt dạng dầm giản đơn và liên tục có chiều dài nhịp trung bình dưới tác dụng của đoàn tàu tốc độ cao https://vjol.info.vn/tapchinguoixaydung/article/view/138678 <p>Kiểm soát gia tốc dao động lớn nhất (a<sub>max</sub>) của mặt cầu dưới tác dụng của đoàn tàu được đánh giá là một trong cấc tiêu chí quan trọng, quyết định mức độ an toàn và ổn định khai thác đối với các công trình cầu trên đường sắt tốc độ cao. Tiêu chuẩn Eurocodes hoặc TCVN 13594:2022 quy định các giá trị cụ thể của a<sub>max</sub> đối với trường hợp mặt cầu có/hoặc không dùng ballat, tuy nhiên không có chỉ dẫn cụ thể phương pháp xác định thông số này. Vì vậy, đối với trường hợp Tiêu chuẩn thiết kế quy định cần phải phân tích kết cấu cầu theo mô hình động lực, giá trị cực đại a<sub>max</sub> sẽ thu được nhờ kết quả tính toán bằng các phần mềm phân tích kết cấu chuyên dụng. Với trường hợp không yêu cầu phải phân tích kết cấu cầu theo mô hình động lực thì việc xác định giá trị cực đại amax sẽ gặp khó khăn. Bài viết này trình bày kết quả sử dụng phương pháp đơn giản hóa để đánh giá trị số a<sub>max</sub> cho một số dạng kết cấu cầu dạng giản đơn và liên tục có chiều dài nhịp trung bình được sử dụng phổ biến trên đường sắt tốc độ cao nhằm góp phần hỗ trợ công tác thiết kế cầu trên các tuyến đường sắt tốc độ cao ở Việt Nam</p> PGS-TS Hoàng Hà Bản quyền (c) 2026-04-06 2026-04-06 tháng 3 49 49 Hoạt động logistics trong cung ứng nguyên vật liệu của doanh nghiệp xây dựng dân dụng: Kinh nghiệm từ một số địa phương và bài học cho Hà Nội https://vjol.info.vn/tapchinguoixaydung/article/view/138687 <p>Hoạt động logistics đóng vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng nguyên vật liệu của các doanh nghiệp xây dựng dân dụng, ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí, tiến độ và hiệu quả thi công công trình. Trong bối cảnh nhu cầu xây dựng đô thị ngày càng gia tăng cả về số lượng và chất lượng, việc tổ chức hệ thống logistics hiệu quả trở thành một yếu tố then chốt giúp các doanh nghiệp xây dựng nâng cao năng lực cạnh tranh. Bài báo nghiên cứu kinh nghiệm tổ chức hoạt động logistics trong cung ứng nguyên vật liệu của các doanh nghiệp xây dựng dân dụng tại một số địa phương tiêu biểu của Việt Nam, từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động logistics trong cung ứng nguyên vật liệu cho các doanh nghiệp xây dựng dân dụng tại Hà Nội.</p> TS. Lê Minh Thoa ThS. Phạm Thái Bảo Bản quyền (c) 2026-04-06 2026-04-06 tháng 3 55 55 Nhận diện các rủi ro và giải pháp giảm thiểu rủi ro khi đầu tư bất động sản ở Việt Nam https://vjol.info.vn/tapchinguoixaydung/article/view/138697 <p>Rủi ro là vấn đề xảy ra ở bất kỳ lĩnh vực, ngành nghề nào và bất động sản không phải là ngoại lệ. Tuy nhiên, do giá trị đầu tư của ngành này cao nên việc đánh giá và giảm thiểu rủi ro cần phải được ưu tiên trước khi quyết định đầu tư. Bài viết này sẽ nhận diện các rủi ro khi đầu tư bất động sản và đưa ra một số giải pháp đề xuất giảm thiểu rủi ro cho nhà đầu tư khi đầu tư bất động sản ở Việt Nam qua đó giúp các nhà đầu tư chủ động ứng phó, đưa ra quyết định đúng đắn và nâng cao hiệu quả nguồn vốn đầu tư của mình. </p> TS. Đỗ Văn Chính Bản quyền (c) 2026-04-06 2026-04-06 tháng 3 59 59 Tác động của các dự án bất động sản xanh đến phát triển kinh tế xanh: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam https://vjol.info.vn/tapchinguoixaydung/article/view/138735 <p>Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và yêu cầu phát triển bền vững ngày càng gia tăng, mô hình kinh tế xanh đang trở thành định hướng quan trọng trong chiến lược phát triển của nhiều quốc gia. Ngành xây dựng và bất động sản là một trong những lĩnh vực tiêu thụ nhiều năng lượng và phát thải khí nhà kính, do đó việc phát triển các dự án bất động sản xanh được xem là giải pháp quan trọng nhằm thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang kinh tế xanh. Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế về phát triển bất động sản xanh và đánh giá tác động của các dự án này đối với phát triển kinh tế xanh. Từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam nhằm thúc đẩy phát triển bất động sản xanh trong thời gian tới, bao gồm hoàn thiện khung chính sách, phát triển tài chính xanh, thúc đẩy đổi mới công nghệ và nâng cao nhận thức của thị trường, kỳ vọng sẽ góp phần thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế xanh bền vững ở Việt Nam.</p> TS. Lê Minh Thoa Lê Thị Ngọc Nguyễn Thị Bích Vân Phạm Thị Thu Vân Cao Thị Xuân Bản quyền (c) 2026-04-06 2026-04-06 tháng 3 64 64 Nghiên cứu xác định các nhân tố lãng phí trong thi công xây dựng nhà cao tầng https://vjol.info.vn/tapchinguoixaydung/article/view/138740 <p>Bài báo này nghiên cứu, đề xuất các nhóm nhân tố gây lãng phí trong quá trình thi công xây dựng nhà cao tầng. Thông qua quá trình khảo sát, thu thập, phân tích và xử lý số liệu, xác định mức ảnh hưởng của các nhóm nhân tố lãng phí đến quá trình sản xuất.</p> TS. Nguyễn Quang Vinh Bản quyền (c) 2026-04-06 2026-04-06 tháng 3 73 73 Ứng dụng mô hình thông tin công trình (BIM) trong tối ưu hóa lập kế hoạch và kiểm soát tiến độ thi công dự án xây dựng https://vjol.info.vn/tapchinguoixaydung/article/view/138743 <p>Kiểm soát tiến độ thi công là một trong những yếu tố quyết định đến thành công của dự án xây dựng, đặc biệt trong bối cảnh quy mô, mức độ phức tạp và yêu cầu phối hợp giữa các bên liên quan ngày càng gia tăng. Nghiên cứu này tập trung đánh giá mức độ và hiệu quả ứng dụng Mô hình Thông tin Công trình (BIM) trong tối ưu hóa công tác lập kế hoạch và giám sát tiến độ thi công tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích định tính từ nguồn dữ liệu thứ cấp, nghiên cứu tổng hợp các tiêu chuẩn quốc gia, quy định pháp lý và kinh nghiệm triển khai thực tiễn từ các dự án trong và ngoài nước. Kết quả cho thấy, BIM 4D không chỉ hỗ trợ trực quan hóa trình tự thi công mà còn nâng cao độ chính xác trong việc theo dõi và so sánh tiến độ thực tế so với kế hoạch, từ đó giúp dự báo và xử lý sớm nguy cơ chậm trễ. Tuy nhiên, những hạn chế về năng lực nhân sự, hạ tầng công nghệ và quy trình chuẩn vẫn là rào cản lớn đối với việc phát huy tối đa hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất nhóm giải pháp nhằm nâng cao năng lực triển khai BIM trong quản lý tiến độ, hướng tới gia tăng tính minh bạch, khả năng kiểm soát và hiệu quả quản lý trong suốt vòng đời dự án xây dựng.</p> TS. Nguyễn Minh Nhất Bản quyền (c) 2026-04-06 2026-04-06 tháng 3 78 78