Thử nghiệm tương đương sinh học của hai chế phẩm có hoạt chất chlorpheniramin racemic
Tóm tắt
Chlorpheniramin (CPAM) thuốc chống dị ứng kháng H1 là một trong những thuốc thiết yếu do có hiệu quả cao và giá thành hạ. CPAM có một C bất đối, được lưu hành dưới dạng racemic và thường được phối hợp với hoạt chất co mạch máu mũi như phenylpropanolamin (PPA). Dạng bào chế thường dùng là dạng phóng thích kéo dài nhằm kiểm soát nồng độ thuốc trong huyết tương và tăng cường sự tuân thủ của bệnh nhân. Hấp thu CPAM thay đổi tùy theo dạng bào chế. Thông số dược động học của CPAM thay đổi tùy theo nghiên cứu. CPAM chuyển hoá chủ yếu tại gan với phản ứng demethyl hoá. Thời gian bán hủy thay đổi từ 12 đến 42 giờ.
Trong nghiên cứu dược động học CPAM khảo sát trên mô hình chuột sử dụng thuốc đường tĩnh mạch nồng độ (-)-R-CPAM trong huyết tương cao hơn (+)-S-CPAM, tỉ lệ gắn kết protein huyết tương và chuyển hóa của CPAM có thể là những nguyên nhân của tính chọn lọc đồng phân quang học này.
Nghiên cứu này nhằm thử nghiệm tương đương sinh học của chế phẩm sản xuất thử của Mekophar, Thành phố Hồ Chí Minh so với Contac® (Wellcome, United Kingdom) xét cả dạng racemic và đồng phân quang học và khảo sát các yếu tố ảnh hưởng.
Phương pháp nghiên cứu
Người thử nghiệm: Mười hai người Việt Nam khỏe mạnh, nam giới, tuổi từ 22 đến 43, cân nặng từ 48 đến 72 kg tham gia thử nghiệm. Họ không sử dụng thuốc nào khác ngoại trừ phenylpropanolamin và viết đơn tình nguyện theo quy ước Helsinki.
Kết quả
Tương đương sinh học của chế phẩm thử và chế phẩm đối chiếu được chứng minh với dạng racemic nếu dựa trên khuyến cáo quốc tế (sử dụng số liệu log-quy đổi, phép kiểm Schuirmann) và có thể cần phải tăng lượng người tham gia thử nghiệm để có được kết luận tương tự cho đồng phân R(-)-CPAM và S(+)-CPAM. Trong nghiên cứu này, giống như các thử nghiệm khác, chứng minh được tương đương sinh học của dạng racemic không có nghĩa là bắt buộc đúng đối với đồng phân quang học. Ngoài ra, việc lựa chọn phép kiểm thống kê cũng có thể ảnh hưởng đến kết quả sau cùng.