Đánh giá tác dụng giải lo âu trên động vật thực nghiệm của L-tetrahydropalmatin

  • Lê Doãn Trí
  • Đỗ Văn Quân
  • Nguyễn Thu Hằng
  • Nguyễn Quốc Huy
  • Nguyễn Hoàng Anh

Tóm tắt

Rối loạn lo âu (anxiety disorders) là tình trạng lo sợ quá mức trước một tình huống xảy ra, có tính chất vô lý, lặp lại và kéo dài gây ảnh hưởng đến sự thích nghi với cuộc sống của người bệnh. Hiện nay, phương pháp điều trị chủ yếu là phối hợp liệu pháp tâm lý với thuốc giải lo âu có nguồn gốc hóa dược. Hạn chế lớn nhất của các thuốc này là tác dụng phụ, khả năng lệ thuộc thuốc và hội chứng cai thuốc. Vì vậy, sử dụng các thuốc và sản phẩm có nguồn gốc dược liệu hiện được coi là hướng tiếp cận bổ sung và thay thế cho các thuốc có nguồn gốc hóa dược trong điều trị rối loạn lo âu. l-tetrahydropalmatin (l-THP) là alkaloid được tìm thấy ở nhiều loài thực vật thuộc chi Corydalis, chi Stephania Lour. Tại Việt Nam, l-THP được phân lập và chiết xuất thành công năm 1941 và được sử dụng chủ yếu trong điều trị với tác dụng an thần, gây ngủ. Gần đây, trên thế giới các hướng tác dụng hướng thần kinh khác của l-tetrahydropalmatin trong đó có tác dụng giải lo âu đã bắt đầu được chú ý tới, tuy nhiên những tác dụng này chưa được đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện. Nhằm tạo cơ sở cho việc phát triển và ứng dụng l-THP trong điều trị các rối loạn lo âu, nghiên cứu này được thực hiện để đánh giá tác dụng giải lo âu thực nghiệm của l-THP, thăm dò ảnh hưởng trên hoạt động vận động tự nhiên và tác dụng an thần ở các mức liều có tác dụng giải lo âu, đồng thời đánh giá khả năng gây lệ thuộc thuốc khi sử dụng kéo dài l-THP.

Phương pháp nghiên cứu

            Mô hình chữ thập nâng cao (elevated plus maze, EPM): Theo mô tả của Lister. Dụng cụ bằng gỗ gồm 2 tay kín kích thước 30 x 5 x 15 cm (dài x rộng x cao), 2 tay hở kích thước 30 x 5 x 0,2 cm, đặt vuông góc với nhau và đặt cách nền nhà 60 cm tạo thành hình chữ thập. Cường độ chiếu sáng trong thời gian làm thực nghiệm duy trì bằng một bóng đèn 60W. Chuột nhắt được đặt vào vùng trung tâm, mặt hướng về tay hở, sau đó được tự do di chuyển khám phá trong 5 phút. Ghi nhận số lần vào và thời gian lưu lại ở tay hở của mỗi chuột.

            Mô hình chữ T nâng cao (elavated T maze, ETM): Theo mô tả của Graeff và cộng sự[5]. Dụng cụ bằng gỗ gồm 3 tay kích thước 50 x 10 cm trong đó 1 cánh tay có thành cao 40 cm (tay kín) đặt vuông góc với 2 tay hở và cách nền nhà 50 cm tạo thành hình chữ T. Cường độ chiếu sáng trong thời gian làm thực nghiệm duy trì bằng một bóng đèn 60W. Một ngày trước thí nghiệm, chuột cống được phơi nhiễm với mô hình bằng cách đặt chuột vào cánh tay hở 30 phút. Chuột được đặt vào cuối tay kín, mặt hướng về vùng trung tâm. Ghi nhận thời gian chuột rời tay kín bằng cả 4 chân (thời gian tiềm tàng nền, baseline latency), sau đó ghi nhận lại thời gian này trong 2 lần đặt chuột vào mô hình tiếp theo (né tránh 1 và né tránh 2, avoidance 1 và 2). Sau huấn luyện né tránh, chuột được đặt lại vào mô hình vào phần cuối tay hở bên phải và ghi nhận thời gian chuột rời tay hở này bằng cả 4 chân (chạy trốn, escape).

            Mô hình môi trường mở (open-field test, OFT): Theo mô tả của Gould và cộng sự [4]. Dụng cụ hình hộp vuông bằng gỗ, kích thước 40 x 40 x 60 cm (dài x rộng x cao), đáy hộp chia ra làm 16 ô vuông bằng nhau và tương ứng với 2 vùng là vùng trung tâm (4 ô nằm giữa) và vùng viền ngoài (12 ô còn lại), cường độ chiếu sáng ở sàn duy trì bằng một bóng đèn 60W. Chuột được đặt vào chính giữa mô hình, mặt hướng về cạnh mô hình, thực hiện thử nghiệm trong 5 phút. Ghi nhận số đường kẻ đi qua, số lần đứng bằng 2 chân của mỗi chuột.

            Mô hình kéo dài thời gian ngủ do thiopental: Theo mô tả của Đỗ Trung Đàm[1]. Chuột được tiêm tĩnh mạch thiopental liều 40mg/kg. Đặt chuột nằm ngửa, thời gian ngủ do thiopental được tính từ khi chuột bắt đầu ngủ đến khi chuột có phản xạ lật mình trở dậy.

            Mô hình đánh giá khả năng lệ thuộc thuốc: Theo mô tả của Ward và Stephens[13]. Chuột được uống dung môi hoặc chế phẩm nghiên cứu liên tục trong 21 ngày. Sau đó ngừng uống thuốc. 72h sau lần uống thuốc cuối cùng, cho chuột tiếp xúc với mô hình EPM. Chuột được đặt nhẹ nhàng vào vùng trung tâm, mặt hướng về cánh tay mở, sau đó được tự do di chuyển khám phá trong 5 phút. Ghi nhận thời gian lưu lại ở tay mở, số lần ra vào các vùng cánh tay (đóng = kín và/hoặc mở) của chuột.

            Xử lý số liệu: Dữ liệu được lưu trữ, phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0 và được biểu diễn dưới dạng giá trị trung bình ± sai số chuẩn (X ± SE). Mẫu được kiểm định bằng test phi tham số Kruskal - Wallis sau đó là Mann -Whitney U test để so sánh sự  khác biệt giữa các lô.

Kết quả

            l-THP ở các mức liều từ 0,1 mg/kg đến 1 mg/kg thể hiện tác dụng giải lo âu trên mô hình EPM tương tự diazepam. Ở mức liều giải lo âu, l-THP có tác dụng chống rối loạn hoảng sợ (mô hình chữ ETM) nhưng không ảnh hưởng đến hoạt động tự nhiên của chuột (mô hình OFT) và không thể hiện tác dụng an thần (kéo dài thời gian ngủ do thiopental). Việc sử dụng kéo dài l-THP ở mức liều giải lo không gây lệ thuộc thuốc khi ngừng thuốc đột ngột. Kết quả thu được từ nghiên cứu tạo cơ sở khoa học để đánh giá lâm sàng điều trị rối loạn lo âu trên lâm sàng của l-THP, cũng như tạo tiền đề cho các nghiên cứu dược lý sâu hơn về cơ chế tác dụng giải lo âu của thuốc.

điểm /   đánh giá
Phát hành ngày
2015-03-25
Chuyên mục
BÀI BÁO