Ảnh hưởng của vật bám và thức ăn lên tăng trưởng, tỷ lệ bám và tỷ lệ sống của ấu trùng trai ngọc nữ (Pteria penguin Roding, 1798) ở giai đoạn sống đáy

  • Phùng Bảy
  • Tôn Nữ Mỹ Nga
  • Lê Văn Phúc
Từ khóa: Ấu trùng giai đoạn sống đáy, trai ngọc nữ, vật bám

Tóm tắt

Để xác định loại vật bám tốt nhất và thức ăn tốt nhất cho ấu trùng trai ngọc nữ (Pteria penguin Roding, 1798), góp phần hoàn thiện qui trình ương nuôi, hai thí nghiệm đã được thực hiện trong các bể composite 100 lít. Mật độ tảo cho ăn từ 15.000 tế bào/ml đến 30.000 tế bào/ml. Mỗi thí nghiệm đều có 4 nghiệm thức, được lặp lại 4 lần và kéo dài 20 ngày. Thí nghiệm 1 gồm 4 nghiệm thức thức ăn tảo: TA1 (Nannochloropsis oculata và Isochrysis galbana với tỷ lệ 1:1), TA2 (N. oculata và Chaetoceros gracilis với tỷ lệ 1:1), TA3 (I. galbana và C. gracilis. với tỷ lệ 1:1) và TA4 (N. oculata, I. galbana và C. gracilis. với tỷ lệ 1:1:1). Mật độ ban đầu của ấu trùng chân bò là 3 con/ml. Kết quả cho thấy TA4 cho ấu trùng có kích thước trung bình chiều dài lớn nhất (1210 µm/con), tỷ lệ bám cao nhất (48,7 %) và tỉ lệ sống cao nhất (28,7%). Thí nghiệm 2 gồm 4 loại vật bám khác nhau: VB 1 (Lưới lan), VB 2 (Tôn nhựa), VB 3 (San hô chết) và VB 4 (Dây thừng). Ấu trùng được cho ăn như TA4 hai lần mỗi ngày. Kết quả cho thấy nghiệm thức VB 1 (Lưới lan) cho ấu trùng có kích thước trung bình chiều dài lớn nhất (1128.4 µm/con), tỉ lệ bám cao nhất (48,6%) và tỷ lệ sống cao nhất (28,6%).

DOI: https://doi.org/10.53818/jfst.03.2025.594

Tác giả

Phùng Bảy

Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản III

Tôn Nữ Mỹ Nga

Viện Nuôi trồng thủy sản, Trường Đại học Nha Trang

Lê Văn Phúc

Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản III

điểm /   đánh giá
Phát hành ngày
2025-09-29