Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản https://vjol.info.vn/tckhcnthuysan <p><strong>Tạp chí Khoa học của Trường Đại học Nha Trang</strong></p> Trường Đại học Nha Trang vi-VN Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản 1859-2252 Ứng dụng chitosan tạo vi nang tăng cường độ ổn định của astaxanthin trong chế phẩm protein-carotenoid https://vjol.info.vn/tckhcnthuysan/article/view/136210 <p><em>Carotenoid, đặc biệt là astaxanthin, trong chế phẩm protein-carotenoid thu nhận từ đầu tôm thẻ chân trắng thường kém bền với các yếu tố môi trường như ánh sáng, oxy và nhiệt độ, dẫn đến sự suy giảm nhanh chóng về hoạt tính sinh học và màu sắc. Nghiên cứu này nhằm mục đích ứng dụng chitosan để tạo vi nang bao gói chế phẩm này thông qua phương pháp tạo gel ion. Kết quả cho thấy, nồng độ chitosan 2,5% sử dụng làm chất nền trong dung dịch natri tripolyphosphate (TPP) 3% là thích hợp nhất cho quá trình tạo hạt. Tại điều kiện này, vi nang thu được có hình cầu tròn đều với hiệu suất tạo hạt đạt 73,7%, hiệu suất bao gói astaxanthin đạt 77,3% và độ bền cơ học đạt 98,5% (sau 48 giờ). Vi nang giúp duy trì độ ổn định của astaxanthin tốt hơn đáng kể so với mẫu đối chứng, đặc biệt là khả năng bảo vệ hoạt chất trong môi trường nước ở nhiệt độ phòng khi bảo quản trong bao bì đục (HDPE). Nghiên cứu này mở ra hướng ứng dụng tiềm năng cho việc nâng cao giá trị chế phẩm protein-carotenoid từ phụ phẩm tôm trong công nghiệp thực phẩm và thức ăn thủy sản.</em></p> <p><strong>DOI:</strong> <a href="https://doi.org/10.53818/jfst.01.2026.614">https://doi.org/10.53818/jfst.01.2026.614</a></p> Phạm Thị Đan Phượng Võ Hoàng Thục Lan Bản quyền (c) 2026-03-27 2026-03-27 01 003 013 Đánh giá cường lực và năng suất khai thác của nghề lưới rê thu ngừ tại thành phố Hồ Chí Minh https://vjol.info.vn/tckhcnthuysan/article/view/136251 <p><em>Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp điều tra, khảo sát và ghi nhật ký khai thác của 30 tàu cá hoạt động nghề lưới rê thu ngừ tại Thành phố Hồ Chí Minh (Bà Rịa - Vũng Tàu cũ) trong khoảng thời gian từ 7/2023 - 6/2024. Trên cơ sở dữ liệu thu thập, nhóm nghiên cứu đã sử dụng phương pháp thống kê mô tả để xác định các chỉ số nhằm đánh giá hiệu quả nghề khai thác, phục vụ quản lý nghề cá theo hướng bền vững.</em></p> <p><em>Kết quả cho thấy cường lực khai thác (E) của đội tàu lưới rê thu ngừ dao động từ 191,8 - 509,7 ngày tàu, trung bình mỗi tàu đạt 14,8 ngày tàu/tháng. Năng suất khai thác (CPUE) dao động từ 399,6 - 502,8 kg/10.000 m², đạt trung bình &nbsp;447,9 kg/10.000 m<sup>2</sup>. Cường lực và năng suất khai thác biến động rõ theo mùa vụ. Mô hình hồi quy tuyến tính giữa năng suất và cường lực khai thác được xác định: CPUE = 1,65E+ 208,76 (R<sup>2</sup> = 0,06), cho thấy mối quan hệ tỷ thuận nhưng không chặt chẽ. Khi cường lực tăng thêm 1 ngày tàu, năng suất khai thác chỉ tăng khoảng 1,65 kg/10.000 m². Điều này cho thấy cường lực không phải là yếu tố chính làm thay đổi năng suất khai thác mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như mùa vụ, ngư trường, tập tính đàn cá hoặc kỹ thuật khai thác. Sản lượng khai thác của đội tàu dao động 379,7 - 478,4 tấn/tháng, đạt cao nhất vào tháng 10/2023 - 3/2024, phản ánh tính mùa vụ rõ rệt. </em></p> <p><strong>DOI: </strong><a href="https://doi.org/10.53818/jfst.01.2026.616">https://doi.org/10.53818/jfst.01.2026.616</a></p> Nguyễn Phan Phước Long Trịnh Thị Trà Nguyễn Trọng Lương Bản quyền (c) 2026-03-27 2026-03-27 01 014 022 Sử dụng dung dịch kombucha – chitosan (Kb - CS) trong bảo quản lạnh cá bớp Rachycentron canadum fillet https://vjol.info.vn/tckhcnthuysan/article/view/136253 <p><em>Cá bớp Rachycentron canadum là loại cá giàu chất béo, dễ hư hỏng trong quá trình bảo quản lạnh. Để kéo dài thời gian bảo quản cá fillet mà không ảnh hưởng đến chất lượng cá, việc dùng chất bảo quản tự nhiên có khả năng chống oxy hóa và có tính kháng khuẩn được chú ý. Kombucha (Kb) là sản phẩm lên men từ trà và Chitosan (CS) là sản phẩm thu nhận từ vỏ chitin của tôm đều là các hợp chất tự nhiên có khả năng chống oxy hóa và kháng khuẩn đã được chứng minh. Thí nghiệm so sánh kiểm tra đặc tính các dung dịch CS, Kb, Kb - CS cho thấy dung dịch Kb - CS có khả năng vượt trội về hoạt tính chống oxy hóa và khả năng ức chế E. coli, S. aureus so với các dung dịch đơn Kb hoặc CS. Nghiên cứu nhúng phủ cá bớp fillet trong các dung dịch Kb - CS 1,0%, CS 1,0%, Kb và cùng mẫu đối chứng ĐC đem bảo quản lạnh trong 10 ngày. Kết quả thu được mẫu phủ Kb - CS 1,0% có khả năng giữ nước và khả năng đàn hồi cao nhất, chỉ số peroxit thấp nhất trong các mẫu thí nghiệm. Mật độ vi khuẩn tổng số trên cá bảo quản nhúng phủ Kb - CS cũng thấp hơn hơn 3,0log(CFU/mL) so với mẫu đối chứng ĐC. Thí nghiệm khảo sát ảnh hưởng của nồng độ CS 0,5%, CS 1,0%, CS 1,5%, CS 2,0% trong dung dịch Kb - CS đến chất lượng cá sau 0, 3, 6, 9, 12, 15 ngày bảo quản. Các thông số thu nhận gồm khả năng đàn hồi, khả năng giữ nước của cá fillet, mật độ vi khuẩn tổng số và Coliforms, và cảm quan độ tươi của cá đã được xác định. Kết quả cho thấy, cá bớp fillet được nhúng phủ dung dịch Kb - CS 1,5% giữ nguyên được độ đàn hồi, khả năng giữ nước của cơ thịt cá, đồng thời chỉ số PV hầu như không thay đổi trong 12 ngày bảo quản. Mật độ tổng số vi khuẩn tăng 1,0log(CFU/g) so với mật độ ban đầu sau 15 ngày bảo quản. Kết quả đánh giá cảm quan QIM cũng cho thấy mẫu cá nhúng phủ Kb - CS 1,5% có độ tươi giảm chậm nhất so với các mẫu nghiên cứu còn lại.</em></p> <p><strong>DOI:</strong> <a href="https://doi.org/10.53818/jfst.01.2026.621">https://doi.org/10.53818/jfst.01.2026.621</a></p> Nguyễn Thị Hải Thanh Lê Nhã Uyên Bản quyền (c) 2026-03-27 2026-03-27 01 023 035 Đánh giá ảnh hưởng bột ấu trùng ruồi lính đen (Hermetia illucens) thay thế bột cá đến tăng trưởng, hoạt tính enzyme tiêu hóa, enzyme chuyển hóa và trạng thái oxy hóa của cá hồng mỹ (Sciaenops ocellatus) giai đoạn giống https://vjol.info.vn/tckhcnthuysan/article/view/136254 <p><em>Cá hồng Mỹ (Sciaenops ocellatus) là loài cá biển có giá trị kinh tế cao, được nuôi phổ biến tại nhiều quốc gia và đang được phát triển mạnh ở Việt Nam nhờ tốc độ tăng trưởng nhanh, chất lượng thịt tốt và nhu cầu thị trường ổn định. Tuy nhiên, chi phí thức ăn, đặc biệt là sự phụ thuộc vào bột cá, vẫn là thách thức lớn đối với tính bền vững của nghề nuôi loài cá này. Bột ấu trùng ruồi lính đen (Hermetia illucens, RLĐ) được xem là nguồn protein thay thế tiềm năng, thân thiện với môi trường và có giá trị dinh dưỡng cao.Nghiên cứu này nhằm đánh giá ảnh hưởng của việc thay thế một phần protein bột cá bằng bột RLĐ đến sinh trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn, hoạt tính enzyme tiêu hóa, enzyme chuyển hóa và trạng thái oxy hóa của cá hồng Mỹ (Sciaenops ocellatus) giai đoạn giống (3–5 cm). Thí nghiệm được bố trí trong 56 ngày với năm nghiệm thức (AT0, AT2, AT7, AT12 và AT17), tương ứng các mức thay thế protein bột cá bằng RLĐ là 0, 2, 7, 12 và 17%, mỗi nghiệm thức gồm 3 bể. Kết quả cho thấy các chỉ tiêu sinh trưởng (chiều dài, khối lượng, SGRL, SGR) và tỷ lệ sống không khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức (p &gt; 0,05), cho thấy cá dung nạp tốt RLĐ. Hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) cải thiện rõ ở AT17 (p &lt; 0,05). Hoạt tính enzyme tiêu hóa amylase không bị ảnh hưởng, trong khi protease và lipase tăng ở các nghiệm thức RLĐ mức 2–12% và giảm ở AT17. Các enzyme chuyển hóa gan (ALT, AST, ALP) duy trì ổn định ở AT0–AT12 nhưng tăng ở AT17. Đồng thời, các nghiệm thức AT7–AT12 ghi nhận hàm lượng MDA thấp và hoạt tính enzyme chống oxy hóa (SOD, CAT, GPx) cao hơn, phản ánh khả năng kiểm soát stress oxy hóa tốt hơn. Nhìn chung, mức thay thế RLĐ 7–12% được xem là phù hợp và an toàn cho cá hồng Mỹ giai đoạn giống.</em></p> <p><strong>DOI: </strong><a href="https://doi.org/10.53818/jfst.01.2026.625">https://doi.org/10.53818/jfst.01.2026.625</a></p> Phạm Thị Khanh Nguyễn Thị Anh Thư Lê Thành Cường Nguyễn Viết Vương Bản quyền (c) 2026-03-27 2026-03-27 01 036 048 Đánh giá hiệu quả thủy phân cá nục gai (Decapterus ruselli) bằng enzyme alcalase trong sản xuất dịch đạm hoà tan giàu acid amin https://vjol.info.vn/tckhcnthuysan/article/view/136255 <p><em>Nghiên cứu đã thực hiện về quá trình phân hủy của protein cá nục gai sử dụng enzyme Alcalase ở điều kiện pH tự nhiên và tỷ lệ nước/nguyên liệu là 1/1. Kết quả cho thấy rằng để đạt được hiệu suất tối ưu, cần sử dụng tỷ lệ enzyme - cơ chất là 93,48 AU/kg protein, duy trì nhiệt độ ở mức 60ºC trong vòng 6 giờ. Sau quá trình này, đạt được độ thủy phân cao nhất là 73,01%, hiệu suất thu hồi nitơ là 75,30%, và tổng nitơ bazơ bay hơi đạt 0,8 g/l trong dịch thủy phân thu được. Sản phẩm cuối cùng có chứa 13,45 g/l nitơ axit amin và 0,59 mg/100 g histamine, nổi bật với tiềm năng ứng dụng đa dạng trong các lĩnh vực ứng dụng khác nhau.</em></p> <p><strong>DOI:</strong> <a href="https://doi.org/10.53818/jfst.01.2026.626">https://doi.org/10.53818/jfst.01.2026.626</a></p> Đỗ Thị Thanh Thủy Nguyễn Thị Lệ Phương Phạm Thị Điềm Vũ Thị Quyên Đào Thị Tuyết Mai Trần Thị Đang Tâm Nguyễn Thị Thương Bản quyền (c) 2026-03-27 2026-03-27 01 049 054 Đánh giá quá trình sử dụng máy dò ngang MAQ22 quét 360 độ trên đội tàu lưới vây xa bờ tỉnh Gia Lai https://vjol.info.vn/tckhcnthuysan/article/view/136256 <p><em>Để đánh giá&nbsp; quá trình sử dụng &nbsp;&nbsp;máy dò ngang MAQ22 quét 360 độ &nbsp;trên &nbsp;nghề lưới vây xa bờ tại Gia Lai, bằng việc khảo sát trên 15 tàu lưới vây có trang bị máy MAQ22. Kết quả cho thấy các tàu sử dụng máy dò ngang MAQ22 quét 360 độ </em><em>đã mang lại hiệu quả đánh bắt cao hơn khoảng 40.5% so với tàu khi chưa trang bị máy, đặc biệt là từ khi trang bị máy tàu chưa bao giờ bị lỗ.Tuy nhiên, việc vận hành của ngư dân vẫn còn nhiều hạn chế, chưa sử dụng được hết những tính năng của thiết bị hàng hải này dẫn đến chưa đạt được hiệu quả như mong muốn. Vì vậy, việc tìm hiểu thực trạng sử dụng, đánh giá hiệu quả sử dụng và đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng máy dò chụp 360 độ MAQ22 để giúp cho ngư dân sử dụng máy được hiệu quả hơn nhằm nâng cao hiệu quả khai thác là một việc làm mang tính cấp thiết và thời sự.</em></p> <p><strong>DOI: </strong><a href="https://doi.org/10.53818/jfst.01.2026.627">https://doi.org/10.53818/jfst.01.2026.627</a></p> Nguyễn Ngọc Hạnh Bản quyền (c) 2026-03-27 2026-03-27 01 055 064 Ảnh hưởng của hệ thống nuôi cấy lên đặc điểm sinh học tế bào, sinh trưởng quần thể và thành phần sinh hóa của tảo silic biển Chaetoceros muelleri phục vụ ương nuôi ấu trùng tôm sú Penaeus monodon Fabricius, 1798 https://vjol.info.vn/tckhcnthuysan/article/view/136257 <p><em>Nghiên cứu này đánh giá ảnh hưởng của các hệ thống nuôi cấy khác nhau đến đặc điểm sinh học, sinh trưởng quần thể và thành phần sinh hóa của tảo silic biển </em><em>Chaetoceros muelleri</em><em>, đồng thời xác định hiệu quả sử dụng loài tảo này làm thức ăn sống cho ấu trùng tôm sú </em><em>Penaeus monodon</em><em>. Kết quả cho thấy quy mô hệ thống nuôi không ảnh hưởng đáng kể đến kích thước tế bào nhưng tác động rõ rệt đến sinh trưởng quần thể, khả năng trôi nổi và tích lũy lipid, axit béo, đặc biệt là EPA và ARA. Cân đối giữa các chỉ tiêu, hệ thống nuôi trong bình Carboy 20-L dường như mang lại hiệu quả cao hơn. Trong ương nuôi ấu trùng tôm, khẩu phần thức ăn vi tảo ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ sống và sinh trưởng, trong đó nghiệm thức NT-2.4 (khẩu phần Zoea 300, và Mysis 200 ×10<sup>3</sup> tb/at/ngày) cho kết quả tối ưu từ giai đoạn Zoea đến PL<sub>1</sub>, mặc dù vẫn thấp hơn nghiệm thức đối chứng. Kết quả nghiên cứu khẳng định tiềm năng ứng dụng </em><em>C. muelleri</em><em> như một nguồn thức ăn sống quan trọng trong sản xuất giống tôm sú tại Việt Nam.</em></p> <p><strong>DOI: </strong><a href="https://doi.org/10.53818/jfst.01.2026.628">https://doi.org/10.53818/jfst.01.2026.628</a></p> Mai Đức Thao Đặng Lê Phương Vy Lê Mạnh Cường Nguyễn Đình Huy Nguyễn Thị Thúy Trần Văn Phước Nguyễn Văn Hữu Vũ Trọng Đại Bản quyền (c) 2026-03-27 2026-03-27 01 065 078 Hiện trạng kỹ thuật–tài chính và khả năng ứng dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo internet kết nối vạn vật (AIoT) trong nuôi tôm thẻ chân trắng siêu thâm canh tại tỉnh Cà Mau https://vjol.info.vn/tckhcnthuysan/article/view/136258 <p>Ngày nay, các mô hình nuôi tôm ngày càng thâm canh hóa và hiện đại hóa, đòi hỏi ứng dụng các công nghệ hiện đại, nhất là các giải pháp dựa trên trí tuệ nhân tạo kết nối vạn vật (AIoT). Nghiên cứu này tiến hành phỏng vấn 50 hộ nuôi tôm thẻ chân trắng (TTCT) siêu thâm canh ở Cà Mau. Phương pháp thống kê mô tả và hồi qui đa biến được sử dụng để đánh giá các chỉ tiêu tài chính – kỹ thuật của mô hình nghiên cứu. Kết quả khảo sát cho thấy mật độ thả nuôi khá cao, lên đến 201 con/m<sup>2</sup>, mang lại năng suất 32 tấn/ha/vụ. Mô hình đòi hỏi chi phí đầu tư cao và lợi nhuận mang lại cũng khá cao (tương ứng là 887,07 và 509,75 triệu đồng/ha/vụ). Các thiết bị AIoT được sử dụng phổ biến là máy cho ăn tự động, camera giám sát, điều khiển từ xa. Tỷ lệ người nuôi sử dụng Internet phục vụ nuôi tôm là 37,5%. Kết quả hồi quy cho thấy sử dụng các thiết bị AIoT có ảnh hưởng đến lợi nhuận nuôi TTCT. Tuy nhiên, chưa đến 50% số hộ sẵn sàng ứng dụng công nghệ này do chi phí cao, lo ngại về kết quả chính xác và chưa phù hợp với quy mô nhỏ. Do đó, giải pháp đề xuất tập trung vào tuyên truyền nâng cao nhận thức, trình diễn công nghệ và hỗ trợ chi phí.</p> <p><strong>DOI:</strong> <a href="https://doi.org/10.53818/jfst.01.2026.631">https://doi.org/10.53818/jfst.01.2026.631</a></p> Nguyễn Thị Kim Quyên Đặng Thị Phượng Nguyễn Minh Tú Bản quyền (c) 2026-03-27 2026-03-27 01 079 089 Biến động hệ số gan trong chu kỳ sinh sản ở cá bè đưng (Gnathanodon speciosus) https://vjol.info.vn/tckhcnthuysan/article/view/136259 <p><em>Cá bè đưng (Gnathanodon speciosus) là loài cá biển có giá trị kinh tế cao và tiềm năng nuôi công nghiệp. Hệ số gan có quan hệ với chu kỳ sinh sản ở cá và được nghiên cứu trên đàn cá bố mẹ có khối lượng và chiều dài toàn thân trung bình lần lượt là 900 ± 200 g và 40 ± 5 cm. Hệ số gan thay đổi theo tháng ở cả cá đực và cá cái. Hệ số gan ở cá cái dao động trong khoảng 1,15 ± 0,25% đến 1,69 ± 0,26%, trong khi ở cá đực là 1,06 ± 0,15% đến 1,59 ± 0,26%. Ở cá cái, hệ số gan biến động khá rõ giữa các giai đoạn phát triển buồng trứng, đạt cực đại khi buồng trứng ở giai đoạn III, giai đoạn tích lũy noãn hoàng (1,7 ± 0,5%). Ngược lại, ở cá đực, hệ số gan ít biến động và không sai khác có ý nghĩa thống kê giữa các giai đoạn phát triển của tinh sào (P &gt; 0,05). Kết quả này cho phép nhận định rằng, gan đóng vai trò quan trọng trong quá trình tích lũy noãn hoàng ở cá cái, trong khi đó hệ số gan không phải là chỉ số hữu ích để ước tính các giai đoạn phát triển tinh sào ở cá đực.</em></p> <p><strong>DOI:</strong> <a href="https://doi.org/10.53818/jfst.01.2026.632">https://doi.org/10.53818/jfst.01.2026.632</a></p> Phạm Quốc Hùng Phan Văn Út Nguyễn Văn Minh Lê Minh Hoàng Bản quyền (c) 2026-03-27 2026-03-27 01 090 095 Ảnh hưởng kết hợp giữa nhiệt độ và thức ăn lên sinh trưởng, tỷ lệ sống và khả năng tiêu hao ôxy của ấu trùng ốc nhảy (Strombus canarium Linnaeus, 1758) giai đoạn trôi nổi https://vjol.info.vn/tckhcnthuysan/article/view/136263 <p><em>Nghiên cứu ảnh hưởng kết hợp của nhiệt độ và thức ăn vi tảo lên sinh trưởng, tỷ lệ sống và khả năng tiêu hao ôxy của ấu trùng ốc nhảy giai đoạn trôi nổi được thực hiện từ tháng 4 tới tháng 10 năm 2025 tại Khánh Hoà. Thí nghiệm được thiết kế đánh giá tác động của hai nhân tố là nhiệt độ (ba mức 30<sup>o</sup>C, 32<sup>o</sup>C và 34<sup>o</sup>C) và thức ăn vi tảo (ba loại Isochrysis galbana, Chaetoceros muelleri, Nannochloropsis oculata) trong các bocal thể tích 10 lít, với 5 lần lặp lại, mật độ ấu trùng ban đầu 2 con/mL. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cả hai yếu tố nhiệt độ và thức ăn có ảnh hưởng đồng thời lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng ốc nhảy (p&lt;0,05). Các chỉ tiêu về sinh trưởng (tốc độ tăng trưởng trung bình ngày và tăng trưởng đặc trưng lần lượt là 30,7 ± 0,6 </em><em>m</em><em>m/ngày, 5,5 ± 0,1 %/ngày) và tỷ lệ sống (86,1 ± 2,5 %) của ấu trùng ốc nhảy đều đạt giá trị cao nhất ở nghiệm thức nhiệt độ thấp (30<sup>o</sup>C) kết hợp với thức ăn là tảo </em><em>C. muelleri</em><em>. Khả năng tiêu hao ôxy của ấu trùng ốc nhảy có giá trị cao nhất là 184,2 ± 2,9 (</em><em>m</em><em>gO<sub>2</sub>/g.h) ở nghiệm thức nhiệt độ cao 34<sup>o</sup>C kết hợp với thức ăn tảo </em><em>C. muelleri</em><em>. Đối với ấu trùng ốc nhảy giai đoạn trôi nổi, duy trì điều kiện nhiệt độ 30°C và sử dụng thức ăn là tảo </em><em>C. muelleri</em> <em>mang lại hiệu quả tốt nhất về sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng.</em></p> <p><strong>DOI:</strong> <a href="https://doi.org/10.53818/jfst.01.2026.637">https://doi.org/10.53818/jfst.01.2026.637</a></p> Vũ Trọng Đại Chung Văn Nhì Nguyễn Thị Cẩm Chi Lê Minh Hoàng Bản quyền (c) 2026-03-27 2026-03-27 01 096 105 Đặc điểm sinh học và ảnh hưởng của thức ăn vi tảo đến sinh trưởng và sinh sản của loài copepoda Apocyclops royi (Lindberg, 1940) https://vjol.info.vn/tckhcnthuysan/article/view/136265 <p><em>Apocyclops royi là một trong những loài giáp xác chân chèo quan trọng, được sử dụng rộng rãi làm thức ăn sống trong ương ấu trùng cá biển tại các trại sản xuất giống hải sản. Nghiên cứu này được thực hiện với hai nội dung nhằm làm rõ một số đặc điểm sinh học chủ yếu của A. royi trong điều kiện thí nghiệm. Ở thí nghiệm thứ nhất, A. royi được nuôi trong các bình thủy tinh (1 lít), mật độ ban đầu là 50 con cái/bình, để theo dõi quá trình phát triển, vòng đời, sinh sản và tuổi thọ. Ở thí nghiệm thứ hai, A. royi được nuôi với ba chế độ cho ăn vi tảo gồm Isochrysis galbana, Chaetoceros muelleri và hỗn hợp I. galbana + C. muelleri (tỷ lệ 1:1), mật độ ban đầu là 500 ấu trùng/bình, nhằm đánh giá khả năng nuôi. Mỗi nghiệm thức được thực hiện với 5 lần lặp trong thời gian tương ứng là 33 và 10 ngày. Các chỉ tiêu đánh giá gồm kích thước ở mỗi giai đoạn phát triển, vòng đời sinh sản, tuổi thọ. Kết quả cho thấy, A. royi phát triển tốt trong điều kiện thí nghiệm, ấu trùng có kích thước ban đầu khoảng 101 µm sau 8 ngày đạt cỡ trưởng thành với chiều dài từ 485 - 586 µm. Tuổi thọ trung bình khoảng 32 ngày. Khả năng sinh sản suốt vòng đời đạt 251,7 ± 31,65 trứng/con cái. Kết quả thử nghiệm cho ăn vi tảo cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về các chỉ tiêu sinh học cơ bản, bao gồm tỷ lệ sống, trứng/con cái, ấu trùng/con cái, tỷ lệ nở và kích thước con trưởng thành giữa các nghiệm thức, cho thấy A. royi có thể sử dụng tốt các loại vi tảo thử nghiệm. Các kết quả thu được giúp cung cấp hiểu biết về đặc điểm sinh học của loài A. royi, và điều này có ý nghĩa quan trọng góp phần xây dựng và hoàn thiện quy trình nuôi sinh khối A. royi làm thức ăn cho ương nuôi ấu trùng cá biển qua đó giúp nâng cao hiệu quả sản xuất giống cá biển.</em></p> <p><strong>DOI:</strong> <a href="https://doi.org/10.53818/jfst.01.2026.633">https://doi.org/10.53818/jfst.01.2026.633</a></p> Đoàn Xuân Nam Trần Thị Lê Trang Trần Văn Dũng Bản quyền (c) 2026-03-27 2026-03-27 01 106 116 Nghiên cứu thủy phân vây cá ngừ vây vàng (Thunnus albacares) bằng enzyme bromelain https://vjol.info.vn/tckhcnthuysan/article/view/136268 <p><em>Ở nghiên cứu này, kết quả thủy phân vây cá ngừ vây vàng dùng enzyme bromelain được chứng minh là một giải pháp công nghệ xanh hiệu quả trong xử lý phụ phẩm thủy sản. Giải pháp không chỉ nâng cao hiệu suất thu hồi protein mà còn góp phần giải quyết vấn đề phụ phẩm trong ngành công nghiệp chế biến cá ngừ theo hướng bền vững và thân thiện với môi trường. Xử lý enzyme ở nhiệt độ 55 <sup>o</sup>C, tỉ lệ khối lượng enzyme so với cơ chất là 0,75% trong 4 giờ là điều kiện thủy phân thích hợp để làm chuyển hóa hiệu quả protein trong vây cá ngừ thành dịch thủy phân giàu giá trị dinh dưỡng. Dịch thủy phân thu được không xuất hiện vị đắng, có hàm lượng protein khoảng 76 g/L và hàm lượng canxi đạt 774 mg/L. Hơn nữa, sản phẩm chứa hàm lượng đáng kể các axit amin thiết yếu như leucine, lysine, threonine và valine, góp phần nâng cao giá trị sinh học của sản phẩm. Kết quả nghiên cứu cho thấy tiềm năng ứng dụng rộng rãi của dịch thủy phân vây cá ngừ trong phát triển các sản phẩm thực phẩm giàu dinh dưỡng, đồng thời mở ra hướng khai thác hiệu quả và bền vững nguồn phụ phẩm thủy sản trong tương lai.</em></p> <p><strong>DOI: </strong><a href="https://doi.org/10.53818/jfst.01.2026.634">https://doi.org/10.53818/jfst.01.2026.634</a></p> Nguyễn Trọng Bách Nguyễn Xuân Duy Nguyễn Thị Thu Lam Võ Song Hương Đinh Văn Hiện Phạm Văn Đạt Huỳnh Nguyễn Duy Bảo Bản quyền (c) 2026-03-27 2026-03-27 01 117 127 Sàng lọc chủng xạ khuẩn sinh tổng hợp chitinase từ rừng ngập mặn tỉnh Khánh Hòa và khảo sát điều kiện nuôi cấy để thu nhận chitinase https://vjol.info.vn/tckhcnthuysan/article/view/136271 <p><em>Chitinase, một loại enzyme thủy phân polysaccharide,</em> <em>là công cụ quan trọng trong các nghiên cứu phân tích đặc tính và chức năng sinh học của các dẫn xuất chitin oligosaccharide. Chitinase có nguồn gốc từ xạ khuẩn đang được quan tâm nghiên cứu trong những năm gần đây do hoạt tính mạnh và ổn định. Trong nghiên cứu này, 45 chủng xạ khuẩn đã được phân lập từ rừng ngập mặn tỉnh Khánh Hòa, được sàng lọc khả năng sinh tổng hợp chitinase. Kết quả cho thấy 41 chủng (91,1%) có hoạt tính enzyme, trong đó chủng A41 biểu hiện khả năng phân giải chitin mạnh nhất với đường kính vòng phân giải đạt 21,50 ± 0,55 mm. Phân tích trình tự gen 16S rRNA xác định chủng A41 thuộc loài Streptomyces thermocarboxydus với mức độ tương đồng 99,93% khi so sánh với cơ sở dữ liệu về trình tự gen 16S rRNA của các loài xạ khuẩn trên GenBank. Các thí nghiệm kháo sát điều kiện nuôi cấy cho thấy chủng A41 sinh tổng hợp chitinase cao nhất sau 5 ngày với hoạt độ đạt 3,39 ± 0,01 U/mL, khi được nuôi trong môi trường SCB bổ sung 1% sucrose và 0,5% malt extract. Kết quả nghiên cứu cho thấy Streptomyces thermocarboxydus A41 là chủng xạ khuẩn tiềm năng để sản xuất chitinase hoạt tính tốt, và ứng dụng trong lĩnh vực y dược, nông nghiệp và xử lý môi trường.</em></p> <p><strong>DOI: </strong><a href="https://doi.org/10.53818/jfst.01.2026.611">https://doi.org/10.53818/jfst.01.2026.611</a></p> Nguyễn Thành Nam Phạm Ngọc Huyền Trân Dương Thị Hiền Nhi Nguyễn Thị Như Thường Bản quyền (c) 2026-03-27 2026-03-27 01 128 140 Tổng quan vai trò của động vật phù du trong nuôi trồng thủy sản https://vjol.info.vn/tckhcnthuysan/article/view/136273 <p><em>Động vật phù du (ĐVPD) là tập hợp những loài động vật sống trong môi trường nước ở trạng thái trôi nổi, đa dạng và hữu ích. ĐVPD không chỉ là một mắt xích quan trong của hầu hết các chuỗi và lưới thức ăn mà còn góp phần duy trì độ trong, cung cấp muối dinh dưỡng Nitơ (N) và Phốt pho (P) hòa tan duy trì sự phát triển ổn định cho thực vật phù du (TVPD) trong thủy vực. ĐVPD là nguồn thức ăn sống đầu tiên cho hầu hết ấu trùng của các loài giáp xác, thân mềm, cá bởi vì chúng là con mồi có nhiều kích thước vừa với cỡ miệng, dễ bắt do khả năng di chuyển chậm, dễ tiêu hóa và hấp thụ vì vỏ cơ thể mỏng, đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng của con non vì ĐVPD có hàm lượng dinh dưỡng cao. Trong nuôi trồng thủy sản (NTTS), sử dụng ĐVPD làm thức ăn đầu tiên cho ấu trùng đã góp phần sản xuất giống thành công nhiều loài cá, giáp xác, động vật thân mềm có giá trị kinh tế. Nhiều nhóm ĐVPD (luân trùng, râu ngành, chân mái chèo, Artemia) được nghiên cứu nuôi sinh khối hoặc thu trứng nghỉ để làm thức ăn cho ấu trùng động vật thủy sản, ĐVPD còn được nghiên cứu sử dụng như là biện pháp sinh học kiểm soát sự phát triển của TVPD, quản lý độ trong và cung cấp thức ăn tự nhiên cho đối tượng nuôi hướng tới NTTS thân thiện với môi trường và phát triển bền vững.</em></p> <p><strong>DOI: </strong><a href="https://doi.org/10.53818/jfst.01.2026.586">https://doi.org/10.53818/jfst.01.2026.586</a></p> Trương Thị Bích Hồng Bản quyền (c) 2026-03-27 2026-03-27 01 141 154 Đánh giá chất lượng môi trường vùng nuôi thủy sản lồng bè ven biển bằng bộ chỉ thị sinh học theo nhóm sinh thái https://vjol.info.vn/tckhcnthuysan/article/view/136274 <p><em>Nghề nuôi trồng thủy sản đặc biệt là nuôi lồng bè ven biển Việt Nam đang phát triển mạnh nhưng chịu áp lực lớn từ ô nhiễm do công nghiệp, du lịch, sinh hoạt và chính hoạt động nuôi. Động vật đáy là nhóm sinh vật thích hợp chỉ thị chất lượng môi trường. Trên thế giới, nhiều bộ chỉ số sinh học dựa trên nhóm loài động vật đáy đã được phát triển và áp dụng hiệu quả như BOPA, BENTIX và AMBI khi phân chia 5 nhóm loài động vật đáy theo mức độ chịu đựng ô nhiễm, phản ánh trạng thái môi trường từ “rất tốt” đến “vô cùng ô nhiễm”. Các nghiên cứu tại châu Âu, Địa Trung Hải và Biển Đen cho thấy chỉ số AMBI rất hiệu quả trong đánh giá mức độ ảnh hưởng của nuôi thủy sản lồng bè đến môi trường đáy.</em></p> <p><em>Ở Việt Nam các chương trình giám sát vẫn chủ yếu dựa trên yếu tố hóa lý, trong khi chỉ số sinh học chỉ mới được áp dụng hạn chế. Chỉ số sinh học (đặc biệt AMBI) là công cụ tiềm năng, phản ánh toàn diện và nhạy hơn các phương pháp hóa lý truyền thống. Do đó, cần áp dụng rộng rãi bộ chỉ số sinh học như AMBI trong chương trình giám sát định kỳ và xây dựng mạng lưới quan trắc sinh học cho các vùng nuôi trọng điểm nhằm giúp cảnh báo sớm ô nhiễm, quản lý nuôi trồng thủy sản bền vững và bảo vệ hệ sinh thái biển ven bờ Việt Nam.</em></p> <p><strong>DOI:</strong> <a href="https://doi.org/10.53818/jfst.01.2026.609">https://doi.org/10.53818/jfst.01.2026.609</a></p> Nguyễn Lâm Anh Phan Thị Kim Hồng Bản quyền (c) 2026-03-27 2026-03-27 01 155 164 Tái định hình quản lý bùn thải trong nuôi cá rô phi thâm canh: Tích hợp công nghệ xử lý, thu hồi tài nguyên và thích ứng vùng nước lợ https://vjol.info.vn/tckhcnthuysan/article/view/136276 <p><em>Nghề nuôi cá rô phi (Oreochromis niloticus) thâm canh đang tạo ra áp lực nghiêm trọng về chất thải rắn, đe dọa sự bền vững của hệ sinh thái tại các vùng nuôi trồng thủy sản trọng điểm như đồng bằng sông Cửu Long. Nhằm giải quyết thách thức này, bài báo đặt mục tiêu tổng hợp và phân tích các phương pháp xử lý bùn thải hiện hành, qua đó đề xuất các chiến lược quản lý tích hợp theo nguyên lý kinh tế tuần hoàn. Thông qua đánh giá phản biện dữ liệu từ các công trình nghiên cứu (2006–2025), bài viết làm rõ các dòng vật chất, hiệu quả công nghệ và rủi ro, đóng góp một khung tiếp cận toàn diện để quản lý bùn thải thích ứng với điều kiện sinh thái nước ngọt và nước lợ. Kết quả chỉ ra ba nhóm giải pháp chiến lược. Thứ nhất, về an toàn sinh học, chế độ quản lý bùn quyết định chất lượng bùn thải; dữ liệu hiện tại cho thấy tần suất thu gom bùn định kỳ ngắn hạn (như hàng tuần) là giải pháp giúp hạn chế sự tích tụ kim loại nặng (Cd, Pb, Cr, Cu). Thứ hai, tùy chọn về công nghệ xử lý: phân hủy kỵ khí kết hợp đồng phân hủy tối ưu cho thu hồi năng lượng (Biogas), trong khi quá trình hiếu khí vượt trội về khoáng hóa phốt-pho và ni-trát cho hệ thống nuôi trồng thủy canh. Thứ ba, đối với những khu vực ven biển bị xâm nhập mặn, công nghệ UASB cho thấy tiềm năng là một giải pháp thay thế cho hồ sinh học nhờ khả năng khắc phục ức chế độ mặn. Bài báo đề xuất khung quản lý tích hợp, định hướng biến bùn thải thành phân bón và năng lượng giá trị cao.</em></p> <p><strong>DOI: </strong><a href="https://doi.org/10.53818/jfst.01.2026.636">https://doi.org/10.53818/jfst.01.2026.636</a></p> Tiền Hải Lý Nguyễn Võ Châu Ngân Bản quyền (c) 2026-03-27 2026-03-27 01 165 178