Tạp chí Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương https://vjol.info.vn/tckinhtechauathaibinhduong <p><strong>Tạp chí của Trung tâm Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương</strong></p> vi-VN Tạp chí Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương 0868-3808 Quản trị rủi ro tín dụng trong bối cảnh biến động kinh tế https://vjol.info.vn/tckinhtechauathaibinhduong/article/view/139548 <p><span class="fontstyle0">Rủi ro tín dụng luôn là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự ổn định và phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế chịu tác động từ các cú sốc như đại dịch Covid-19 và những biến động địa chính trị gần đây. Bài viết này tổng quan các lý thuyết cơ bản và thực tiễn về quản trị rủi ro tín dụng, đồng thời nhấn mạnh sự chuyển dịch từ phương pháp truyền thống đánh giá tỷ lệ nợ xấu sang tiếp cận xác suất phát sinh nợ xấu theo chu kỳ kinh tế. Dựa trên phân tích các yếu tố vĩ mô và đặc thù ngân hàng, bài viết đề xuất một khung quản trị rủi ro tín dụng tích hợp, kết hợp mô hình kinh tế lượng và kỹ thuật dự báo, với mục tiêu nâng cao khả năng cảnh báo sớm và đảm bảo sự phát triển bền vững cho các ngân hàng thương mại tại Việt Nam.</span></p> Trịnh Thị Huyền Trang Bản quyền (c) 2026-04-07 2026-04-07 702 3 3 Thực trạng và giải pháp phát triển thương mại điện tử xanh https://vjol.info.vn/tckinhtechauathaibinhduong/article/view/139566 <p><span class="fontstyle0">Thương mại điện tử đem lại lợi ích kinh tế nhưng cũng gây ra nhiều vấn đề như rác thải bao bì, phát thải khí nhà kính từ hoạt động vận chuyển và tiêu thụ năng lượng lớn tại các trung tâm dữ liệu. Để hạn chế các mặt tiêu cực đó, thương mại điện tử xanh là xu thế tất yếu vìkhông chỉ đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững của nền kinh tế thị trường, mà còn giúp tạo lợi thế cạnh tranh trong khu vực. Hơn thế, thương mại điện tử xanh còn giúp giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường bằng các giải pháp như sử dụng bao bì tái chế, logistic xanh, giảm khí thải, sử dụng năng lượng tái tạo và nâng cao nhận thức của người tiêu dùng. Để xây dựng hệ sinh thái thương mại điện tử xanh, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa Chính phủ, doanh nghiệp và người tiêu dùng. Bài viết đề cập đến thực trạng và khó khăn trong việc triển khai, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm thúc đẩy sự phát triển của thương mại điện tử xanh tại Việt Nam.</span> </p> Trần Phan Thanh Hằng Bản quyền (c) 2026-04-07 2026-04-07 702 8 8 Ứng dụng công nghệ trong quản trị doanh nghiệp của thời đại số https://vjol.info.vn/tckinhtechauathaibinhduong/article/view/139572 <p><span class="fontstyle0">Trong bối cảnh hội nhập và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, doanh nghiệp Việt Nam đối mặt với nhiều thách thức từ hàng hóa ngoại nhập và sự phát triển công nghệ. Việc chuyển đổi số trở thành giải pháp quan trọng, giúp doanh nghiệp tối ưu hóa quy trình kinh doanh và nâng cao khả năng cạnh tranh. Bài viết đề cập các yếu tố thiết yếu như phát triển nhân lực, áp dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và xây dựng hệ sinh thái kinh doanh để đổi mới mô hình quản trị. Điều này không chỉ giúp doanh nghiệp cạnh tranh mà còn tạo ra giá trị bền vững trong nền kinh tế số.</span> </p> Nguyễn Đức Thành Bản quyền (c) 2026-04-07 2026-04-07 702 13 13 Già hóa dân số ở Việt Nam: Thách thức đối với quản lý kinh tế https://vjol.info.vn/tckinhtechauathaibinhduong/article/view/139576 <p><span class="fontstyle0">Già hóa dân số là một xu hướng nhân khẩu học tất yếu và đang diễn ra nhanh chóng ở Việt Nam, đặt ra nhiều thách thức mới đối với công tác quản lý kinh tế trong bối cảnh phát triển và hội nhập. Bài viết phân tích thực trạng già hóa dân số ở Việt Nam, làm rõ những tác động chủ yếu của xu hướng này đối với quản lý kinh tế ở tầm vĩ mô. Bài viết sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu, kết hợp với việc khai thác dữ liệu thứ cấp từ các nguồn thống kê và báo cáo chính thức. Kết quả nghiên cứu cho thấy, già hóa dân số làm gia tăng áp lực lên thị trường lao động, hệ thống an sinh xã hội và cân đối tài khóa, đồng thời đặt ra yêu cầu phải điều chỉnh mô hình tăng trưởng và cách thức quản lý kinh tế theo hướng bền vững hơn. Từ đó, bài viết đề xuất một số hàm ý quản lý kinh tế và chính sách nhằm nâng cao năng lực thích ứng của nền kinh tế trước những biến đổi nhân khẩu học trong dài hạn.</span> </p> Nguyễn Bảo Trung Bản quyền (c) 2026-04-07 2026-04-07 702 17 17 Nâng cấp vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu: Thách thức và hàm ý chính sách https://vjol.info.vn/tckinhtechauathaibinhduong/article/view/139581 <p><span class="fontstyle0">Hội nhập kinh tế quốc tế và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu được xem là định hướng chiến lược then chốt trong tiến trình tăng trưởngkinh tế của Việt Nam. Nghiên cứu này tập trung phân tích thực trạng và xu hướng tham gia của Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu trong giai đoạn 2005-2022. Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra những thách thức mà Việt Nam đang phải đối mặt, từ đó đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm thúc đẩy khả năng hội nhập và </span><span class="fontstyle0">nâng cấp vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu</span> </p> Hoàng Việt Hà Phạm Thu Phương Bản quyền (c) 2026-04-07 2026-04-07 702 23 23 Cơ chế hỗ trợ giá và động lực đầu tư năng lượng tái tạo tại Việt Nam: Phân tích chính sách trong giai đoạn chuyển dịch năng lượng https://vjol.info.vn/tckinhtechauathaibinhduong/article/view/139588 <p><span class="fontstyle0">Trong bối cảnh Việt Nam cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, cơ chế hỗ trợ giá (Feed-in Tariff - FIT) được triển khai như một công cụ chính sách nhằm kích hoạt đầu tư vào năng lượng tái tạo trong điều kiện thị trường điện còn chưa hoàn thiện. Nghiên cứu này phân tích FIT tại Việt Nam giai đoạn 2017–2023 dưới góc độ thể chế và tái phân bổ rủi ro đầu tư. Trên cơ sở phương pháp phân tích chính sách định tính kết hợp tổng hợp dữ liệu thứ cấp, bài viết chỉ ra rằng FIT đã làm giảm bất định doanh thu, cải thiện tính khả thi tài chính của dự án và thúc đẩy tăng trưởng đột biến công suất điện mặt trời và điện gió. Tuy nhiên, thiết kế giá cố định cao và giới hạn thời gian đã tạo hiệu ứng tăng tốc đầu tư vượt quy hoạch, dẫn tới quá tải lưới điện và áp lực điều phối hệ thống. Nghiên cứu lập luận rằng FIT là công cụ phù hợp trong giai đoạn khởi động thị trường nhưng mang tính giai đoạn, cần được thay thế bằng cơ chế cạnh tranh và thị trường điện hoàn chỉnh trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng.</span> </p> Nguyễn Thị Hương Giang Bản quyền (c) 2026-04-07 2026-04-07 702 28 28 Quy định pháp luật về chủ thể và phương thức đầu tư thành lập cơ sở giáo dục đại học tư thục Việt Nam: Thực trạng và hàm ý chính sách https://vjol.info.vn/tckinhtechauathaibinhduong/article/view/139602 <p><span class="fontstyle0">Nghiên cứu này tập trung hệ thống và phân tích quy định pháp luật về chủ thể đầu tư và phương thức đầu tư thành lập cơ sở giáo dục (CSGD) đại học tư thục. Trên cơ sở đánh giá thực trạng, các tác giả đã đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về chủ thể đầu tư và phương thức đầu tư thành lập cơ sở giáo dục (CSGD) đại học tư thục. Các hàm ý chính sách gồm quy định về xác định chủ thể đầu tư thành lập CSGD đại học tư thục, quy định về điều kiện của chủ thể thành lập CSGD đại học tư thục và quy định về phương thức đầu tư của nhà đầu tư.</span> </p> Phạm Thị Ngọc Lê Trọng Hùng Bản quyền (c) 2026-04-07 2026-04-07 702 34 34 Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong kỷ nguyên số: Xây dựng chuỗi cung ứng có đạo đức và minh bạch hóa nguồn gốc sản phẩm trên nền tảng thương mại điện tử tại Việt Nam https://vjol.info.vn/tckinhtechauathaibinhduong/article/view/139609 <p><span class="fontstyle0">Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, thương mại điện tử (TMĐT) đang trở thành một động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Sự phát triển nhanh chóng của các nền tảng số không chỉ tạo ra cơ hội mở rộng thị trường và nâng cao hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp, mà còn đặt ra những yêu cầu ngày càng khắt khe về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility – CSR). Bài viết phân tích sự chuyển dịch của CSR trong bối cảnh kinh tế số, tập trung làm rõ vai trò của chuỗi cung ứng có đạo đức và minh bạch hóa nguồn gốc sản phẩm như hai trụ cột cốt lõi để xây dựng niềm tin và lợi thế cạnh tranh bền vững cho doanh nghiệp TMĐT tại Việt Nam.</span> </p> Trần Sĩ Định Bản quyền (c) 2026-04-07 2026-04-07 702 40 40 Tính toán nguồn lực tài chính cho kế hoạch đầu tư công trung hạn ở Việt Nam - Tiếp cận dựa trên dữ liệu https://vjol.info.vn/tckinhtechauathaibinhduong/article/view/139614 <p><span class="fontstyle0">Bài viết này phân tích phương pháp tính toán nguồn lực tài chính cho kế hoạch đầu tư công trung hạn ở Việt Nam từ góc độ quản trị dựa trên dữ liệu. Dựa trên khung quản lý đầu tư công và Khung chi tiêu trung hạn (MTEF), nghiên cứu tổng hợp các tài liệu liên quan và phân tích những thách thức thực tiễn tại Việt Nam. Kết quả cho thấy các phương pháp tính toán hiện nay vẫn phụ thuộc nhiều vào trần ngân sách, dữ liệu lịch sử và kinh nghiệm hành chính, trong khi dữ liệu về nhu cầu dự án, chi phí đầu tư, tiến độ thực hiện và khả năng cân đối tài khóa còn phân tán và thiếu chính xác. Những hạn chế này dẫn đến khoảng cách lớn giữa kế hoạch và thực hiện, làm giảm hiệu quả quản lý đầu tư công. Để khắc phục các vấn đề này, bài viết đề xuất cách tiếp cận dựa trên dữ liệu, tích hợp thông tin về dự án, tiến độ triển khai và dòng tiền trong quá trình lập kế hoạch nguồn lực trung hạn.</span> </p> Trần Thị Kim Phú Bản quyền (c) 2026-04-07 2026-04-07 702 45 45 Tác động lan tỏa của đầu tư xanh đến tăng trưởng kinh tế và phát thải khí nhà kính https://vjol.info.vn/tckinhtechauathaibinhduong/article/view/139623 <p><span class="fontstyle0">Nghiên cứu phân tích tác động của đầu tư xanh đến tăng trưởng kinh tế và phát thải khí nhà kính tại Việt Nam bằng cách sử dụng mô hình bảng cân đối liên ngành mở rộng môi trường. Kết quả cho thấy đầu tư xanh có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế thông qua việc gia tăng giá trị gia tăng của nền kinh tế. Tuy nhiên, hiệu quả lan tỏa của mỗi đơn vị vốn đầu tư có xu hướng giảm theo thời gian, phản ánh sự phụ thuộc vào cấu trúc liên ngành và cách thức phân bổ vốn giữa các ngành. Đồng thời, đầu tư xanh vẫn làm gia tăng phát thải khí nhà kính do hiệu ứng mở rộng sản xuất, nhưng cường độ phát thải trên mỗi đơn vị đầu tư có xu hướng giảm dần.</span> </p> Nguyễn Thị Thương, Vũ Phương Anh, Nguyễn Thái Hà, Nguyễn Thị Ngọc Ánh, Lê Thị Linh Đan, Đào Thu Trang Bản quyền (c) 2026-04-07 2026-04-07 702 51 51 Đặc điểm cấu trúc của quan hệ thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ giai đoạn 2021-2025 https://vjol.info.vn/tckinhtechauathaibinhduong/article/view/139642 <p><span class="fontstyle0">Bài viết phân tích đặc điểm cấu trúc của quan hệ thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ giai đoạn 2021–2025 trong bối cảnh tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu và cạnh tranh chiến lược Mỹ–Trung gia tăng. Dựa trên khung lý thuyết phụ thuộc lẫn nhau phức hợp và quyền lực cấu trúc trong kinh tế chính trị quốc tế, nghiên cứu chỉ ra ba đặc điểm nổi bật: (i) phụ thuộc bất đối xứng gia tăng do thặng dư thương mại kéo dài của Việt Nam; (ii) nâng cấp chuỗi giá trị theo hướng công nghệ cao gắn với tái định vị chiến lược; (iii) gia tăng sử dụng công cụ chính sách và tiêu chuẩn như phương tiện thực thi quyền lực kinh tế. Bài viết lập luận rằng việc nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện năm 2023 đã mở rộng hợp tác thể chế, đồng thời làm sâu sắc tính chiến lược của thương mại song phương, qua đó tái định hình vị thế của Việt Nam trong cấu trúc kinh tế khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.</span> </p> Nguyễn Thị Hồng Thắm Bản quyền (c) 2026-04-07 2026-04-07 702 58 58 Tác động của khung ECON–ESG đến tính bền vững của lợi nhuận: Bằng chứng thực nghiệm từ các quốc gia Đông Nam Á https://vjol.info.vn/tckinhtechauathaibinhduong/article/view/139647 <p><span class="fontstyle0">Trong bối cảnh nền kinh tế Đông Nam Á chịu tác động của biến động vĩ mô và yêu cầu phát triển bền vững, nghiên cứu này phân tích ảnh hưởng kết hợp của điều kiện kinh tế và hiệu quả ESG đến thu nhập bền vững doanh nghiệp. Sử dụng dữ liệu bảng của các công ty phi tài chính niêm yết tại 11 quốc gia Đông Nam Á giai đoạn 2018 - 2024. Phân tích PCA được sử dụng để xây dựng các nhân tố kinh tế và chỉ số ECON-ESG, sau đó kiểm định bằng các mô hình hồi quy bảng. Kết quả cho thấy cả yếu tố vĩ mô và ESG đều tác động tích cực, có ý nghĩa thống kê; trong đó mô hình tích hợp ECON-ESG có sức giải thích cao nhất, hàm ý cần gắn kết ổn định vĩ mô với chính sách ESG.</span></p> Đỗ Hồng Nhung, Nguyễn Công Minh , Nguyễn Minh Hà Vy, Nguyễn Thị Hương Dung, Nguyễn Thanh Ngọc, Nguyễn Việt Thành Bản quyền (c) 2026-04-07 2026-04-07 702 63 63 Chính sách vùng phát thải thấp tại Hà Nội: Bài học từ kinh nghiệm của Pháp https://vjol.info.vn/tckinhtechauathaibinhduong/article/view/139662 <p><span class="fontstyle0">Bài viết phân tích chính sách vùng phát thải thấp (LEZ) của Hà Nội thông qua đối chiếu với kinh nghiệm triển khai ZFE-m tại Pháp, nhằm làm rõ các điều kiện thực thi có tính khả thi hơn về mặt xã hội và chính trị. Về phương pháp, nghiên cứu kết hợp so sánh thể chế, ma trận SWOT và mô phỏng khả năng chi trả. Kết quả cho thấy, Hà Nội đã có nền tảng pháp lý tương đối rõ cho LEZ, nhưng tính bền vững của chính sách phụ thuộc mạnh vào chất lượng dữ liệu nền, lộ trình hỗ trợ chuyển đổi và hạ tầng dùng chung. Phân tích cũng chỉ ra rằng sức mua ngang giá (PPP) hữu ích cho đối sánh quốc tế nhưng chưa đủ để đánh giá gánh nặng chuyển đổi ở cấp hộ gia đình. Bài viết kết luận rằng LEZ chỉ có thể duy trì tính chính danh chính trị khi đi kèm dữ liệu minh bạch, trợ cấp nhắm trúng và cơ chế miễn trừ linh hoạt.</span> </p> Đàm Thị Thu Huệ, Nguyễn Thị Lan Hương Bản quyền (c) 2026-04-07 2026-04-07 702 70 70 Thiết kế hệ thống bảo hiểm thất nghiệp cho các nước đang phát triển: Gợi ý từ mô hình tài khoản tiết kiệm bảo hiểm thất nghiệp https://vjol.info.vn/tckinhtechauathaibinhduong/article/view/139670 <p><span class="fontstyle0">Trong bối cảnh lao động phi chính thức chiếm tỷ lệ lớn tại các nước đang phát triển, việc thiết kế hệ thống bảo hiểm thất nghiệp hiệu quả đang là bài toán cấp thiết. Bài viết này giới thiệu và phân tích mô hình Tài khoản tiết kiệm bảo hiểm thất nghiệp (UISA). Mô hình UISA, khi được chính phủ tài trợ hoàn toàn, không chỉ cải thiện phúc lợi người lao động mà còn tạo động lực để chuyển dịch từ khu vực phi chính thức sang khu vực chính thức. Bài viết đưa ra một số khuyến nghị chính sách cho Việt Nam trong việc triển khai mô hình này nhằm giảm thất nghiệp và tăng độ bao phủ của hệ thống an sinh xã hội.</span> </p> Đỗ Thị Kim Thu Bản quyền (c) 2026-04-07 2026-04-07 702 78 78 Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định ứng dụng hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp tích hợp trí tuệ nhân tạo trong ngành sản xuất Việt Nam https://vjol.info.vn/tckinhtechauathaibinhduong/article/view/139681 <p><span class="fontstyle0">Chuyển đổi số đang định hình lại hoạt động sản xuất, đòi hỏi các doanh nghiệp phải áp dụng các hệ thống thông tin tích hợp tiên tiến. Nghiên cứu này điều tra các yếu tố quyết định ý định triển khai hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP) tích hợp với trí tuệ nhân tạo trong các doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam. Dựa trên sự tích hợp mô hình DOI-TAM, dữ liệu được thu thập từ 303 nhà quản lý và chủ doanh nghiệp, được phân tích bằng mô hình PLSSEM qua phần mềm SmartPLS. Kết quả cho thấy lợi thế tương đối và độ phức tạp không tác động đến nhận thức về tính dễ sử dụng nhưng ảnh hưởng đáng kể đến nhận thức về tính hữu ích, qua đó thúc đẩy ý định áp dụng.</span></p> Mai Hương Giang Nguyễn Phạm Khánh Huyền Nguyễn Thị Hoàng Anh Lê Hương Giang Trần Thị Minh Chân Bản quyền (c) 2026-04-07 2026-04-07 702 82 82 Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định kéo dài vòng đời nhằm thúc đẩy hành vi tiêu dùng tuần hoàn thiết bị điện tử cá nhân của thế hệ Z tại Việt Nam https://vjol.info.vn/tckinhtechauathaibinhduong/article/view/139696 <p><span class="fontstyle0">Nghiên cứu xác định và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định kéo dài vòng đời các thiết bị điện tử cá nhân của thế hệ Z Việt Nam, đồng thời đánh giá khoảng cách giữa ý định và hành vi tiêu dùng tuần hoàn. Nghiên cứu tích hợp Lý thuyết Hành vi có kế hoạch và mô hình Đẩy - Kéo - Neo đậu, áp dụng mô hình cấu trúc tuyến tính để kiểm tra mối quan hệ giữa các biến. Kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố kéo và yếu tố neo đậu là động lực thúc đẩy ý định kéo dài vòng đời sản phẩm, ngược lại, yếu tố đẩy tạo ra rào cản đáng kể. Bên cạnh đó, nghiên cứu làm nổi bật vai trò điều tiết của sự tiện lợi cảm nhận và chỉ ra khoảng trống lớn giữa ý định và hành vi thực tế do các rào cản về hạ tầng, pháp lý và thị trường. Dựa trên kết quả này, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện khung pháp lý, khuyến khích doanh nghiệp chuyển sang mô hình kinh doanh tuần hoàn và thúc đẩy tiêu dùng bền vững trong xã hội.</span> </p> Lê Thu Thảo, Phạm Phương Trinh, Nguyễn Minh Tùng, Nguyễn Dương Hiếu Bản quyền (c) 2026-04-07 2026-04-07 702 88 88 Nghiên cứu ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn trong phát hiện gian lận tài chính https://vjol.info.vn/tckinhtechauathaibinhduong/article/view/139701 <p><span class="fontstyle0">Gian lận tài chính là hoạt động gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự ổn định của thị trường tài chính và niềm tin của nhà đầu tư. Các phương pháp phát hiện gian lận truyền thống thường không hiệu quả và không đáp ứng được các phương thức gian lận thay đổi nhanh chóng. Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn đã cung cấp các giải pháp mới cho việc phát hiện gian lận tài chính. Bài viết nghiên cứu ứng dụng AI và dữ liệu lớn trong phát hiện gian </span><span class="fontstyle0">lận tài chính, đồng thời phân tích các thách thức và hướng phát triển trong tương lai.</span> </p> Nguyễn Ngọc Hiền Nguyễn Thị Kim Chi Bản quyền (c) 2026-04-07 2026-04-07 702 96 96 Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tài chính của thế hệ Z tại Hà Nội https://vjol.info.vn/tckinhtechauathaibinhduong/article/view/139709 <p>Nghiên cứu phân tích xu hướng quản lý tài chính cá nhân của thế hệ Z (18-25 tuổi) tại Hà Nội trong bối cảnh chuyển đổi số, tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chi tiêungắnhạn và tiết kiệm. Lấy lý thuyết hành vi tài chính làm trọng tâm, mô hình xem xét tác động của gia đình, giáo dục, công nghệ, truyền thông, thu nhập, yếu tố xã hội, tâm lý, năng lực tài chính và giới tính. Dữ liệu được thu thập bằng khảo sát thang đo Likert 5 điểm và phân tích bằng phương pháp định lượng kết hợp định tính. Kết quả cho thấy nhận thức tài chính giữ vai trò trung tâm trong việc hình thành hành vi tài chính, đồng thời đưa ra hàm ý cho giáo dục tài chính và hoạch định chính sách đối với giới trẻ.</p> Nguyễn Thị Ngọc Diệp Dương Vân Anh Trần Phương Linh Trương Anh Thư Khúc Mai Phương Trần Khánh Hưng Bản quyền (c) 2026-04-07 2026-04-07 702 101 101 Tác động của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp lữ hành đến hình ảnh điểm đến du lịch: Trường hợp tỉnh Ninh Bình https://vjol.info.vn/tckinhtechauathaibinhduong/article/view/139719 <p><span class="fontstyle0">Nghiên cứu làm rõ tác động của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR) của các doanh nghiệp lữ hành đến hình ảnh điểm đến du lịch tại tỉnh Ninh Bình. Dữ liệu được thu thập từ 347 du khách đã sử dụng dịch vụ lữ hành tại Ninh Bình trong năm 2025 thông qua bảng hỏi cấu trúc. CSR được đo lường theo bốn thành phần: trách nhiệm đối với môi trường, cộng đồng, khách hàng và người lao động. Phân tích định lượng thực hiện trên SPSS. Kết quả cho thấy các thành phần CSR đều tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đến hình ảnh điểm đến, trong đó CSR môi trường và CSR cộng đồng có ảnh hưởng mạnh nhất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hàm ý quản trị cho doanh nghiệp lữ hành và chính quyền địa phương nhằm tăng cường thực hiện CSR, góp phần nâng cao hình ảnh du lịch bền vững của Ninh Bình.</span></p> Nguyễn Văn Hải Bản quyền (c) 2026-04-07 2026-04-07 702 106 106 Ảnh hưởng của quản trị chuỗi cung ứng xanh đến khả năng đáp ứng thị trường của doanh nghiệp thực phẩm tại Ninh Bình https://vjol.info.vn/tckinhtechauathaibinhduong/article/view/139734 <p><span class="fontstyle0">Nghiên cứu phân tích ảnh hưởng của các thực hành quản trị chuỗi cung ứng xanh đến khả năng đáp ứng thị trường của doanh nghiệp thực phẩm tại Ninh Bình. Dữ liệu được thu thập bằng khảo sát các nhà quản lý/cán bộ phụ trách vận hành - cung ứng tại doanh nghiệp thực phẩm trên địa bàn tỉnh và xử lý dưới dạng điều tra cắt ngang. Mô hình hồi quy xem xét tác động của mua sắm xanh, sản xuất xanh, logistics xanh, hợp tác xanh với khách hàng và quản trị chất thải xanh đến khả năng đáp ứng thị trường. Nghiên cứu sử dụng thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy thang đo và hồi quy tuyến tính để kiểm định các giả thuyết. Kết quả kỳ vọng cung cấp bằng chứng thực nghiệm và hàm ý quản trị nhằm nâng cao năng lực đáp ứng thị trường thông qua các thực hành chuỗi cung ứng xanh trong ngành thực phẩm địa phương.</span> </p> Nguyễn Hưng Bản quyền (c) 2026-04-07 2026-04-07 702 113 113 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản trị bán hàng: Nghiên cứu thực nghiệm tại công ty TNHH Kinh doanh sắt thép Trường Thịnh https://vjol.info.vn/tckinhtechauathaibinhduong/article/view/139739 <p><span class="fontstyle0">Bài viết nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản trị bán hàng nhằm mục tiêu cải thiện hoạt động bán bàng của công ty. Tác giả đã hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về bán hàng và quản trị bán hàng, và căn cứ các mô hình nghiên cứu trước đây để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản trị bán hàng. Bài viết sử dụng phần mềm SPSS để phân tích, đánh giá các biến độc lập. Quá trình này bao gồm đánh giá độ tin cậy của thang đo Cronbach's alpha, phân tích EFA, phân tích tuyến tính bội và sử dụng One-Sample T Test để đánh giá mức độ ảnh hưởng thông qua thang đo lường Likert. Những phân tích này giúp xác định các yếu tố có tác động đáng đến hiệu quả quản trị bán hàng, đồng thời loại bỏ các biến không có ý nghĩa thống kê. Từ các phân tích này, một mô hình hồi quy đã được xây dựng các yếu tố quan trọng và tác động của chúng đối với hoạt động quản trị bán hàng như sản phẩm dịch vụ, chính sách bán hàng, lực lượng bán hàng và kênh phân phối. Cuối cùng, bài viết đã đề xuất được các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả quản trị bán hàng của công ty.</span> </p> Lê Tiến Mười, Hoàng Nguyễn Du Bản quyền (c) 2026-04-07 2026-04-07 702 121 121 Các nhân tố tác động đến ý định tham gia du lịch chăm sóc sức khỏe của thế hệ Y và thế hệ Z: Nghiên cứu tại Hà Nội https://vjol.info.vn/tckinhtechauathaibinhduong/article/view/139745 <p><span class="fontstyle0">Nghiên cứu này nhằm xác định và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia du lịch chăm sóc sức khỏe của thế hệ Y và thế hệ Z tại Hà Nội. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhận thức về sức khỏe, chuẩn mực chủ quan, truyền miệng điện tử (eWOM), cảm nhận rủi ro và cảm nhận giá có ảnh hưởng đến ý định tham gia du lịch chăm sóc sức khỏe của người trẻ, trong khi hành vi trong quá khứ không có tác động đáng kể. Nghiên cứu góp phần bổ sung vào khoảng trống nghiên cứu về hành vi của khách du lịch trẻ đối với du lịch chăm sóc sức khỏe tại Việt Nam, đồng thời đưa ra một số hàm ý quản trị nhằm thúc đẩy sự phát triển của loại hình du lịch này.</span> </p> Nguyễn Thị Thảo Yến Bản quyền (c) 2026-04-07 2026-04-07 702 127 127 Thực trạng hiệu quả sử dụng lao động và năng suất lao động tại tỉnh Nghệ An https://vjol.info.vn/tckinhtechauathaibinhduong/article/view/139748 <p><span class="fontstyle0">Nghệ An xác định phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao, là một trong ba đột phá chiến lược để thúc đẩy kinh tế - xã hội địa phương. Bài viết trình bày thực trạng về sử dụng lao động và năng suất lao động trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Từ đó, bài viết gợi mở hàm ý chính sách trong việc phát triển nguồn nhân lực tại Nghệ An.</span> </p> Phạm Thị Thúy Hồng Trương Thị Thùy Dương Bản quyền (c) 2026-04-07 2026-04-07 702 134 134 Kinh nghiệm quốc tế về hỗ trợ khởi nghiệp cho người mãn hạn tù và hàm ý chính sách cho Việt Nam https://vjol.info.vn/tckinhtechauathaibinhduong/article/view/139755 <p><span class="fontstyle0">Trong bối cảnh người mãn hạn tù vẫn gặp nhiều rào cản trong tiếp cận việc làm và sinh kế bền vững, việc nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về hỗ trợ khởi nghiệp nhằm rút ra hàm ý chính sách phù hợp cho Việt Nam trở nên đặc biệt cần thiết. Bài viết sử dụng phương pháp tổng quan tài liệu và so sánh chính sách, kết quả cho thấy các mô hình hiệu quả đều áp dụng cách tiếp cận tích hợp, kết hợp đào tạo kinh doanh trong trại giam với hỗ trợ chuyển tiếp và đồng hành sau mãn hạn. Đối chiếu trong nước, nghiên cứu chỉ ra khoảng trống chính sách và đề xuất định hướng hoàn thiện khung pháp lý, đổi mới đào tạo và xây dựng mạng lưới hỗ trợ đa chủ thể.</span> </p> Dương Thùy Linh Phạm Thế An Lê Trang Nhung Nguyễn Hiền Nhi Phạm Thị Khánh Linh Bản quyền (c) 2026-04-07 2026-04-07 702 139 139