Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng https://vjol.info.vn/tckinhteluatvanganhang-hvnh <p><strong>Tạp chí của</strong> <strong>Học viện Ngân hàng</strong></p> vi-VN Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng 3030-4199 Tạm hoãn xuất cảnh do nợ thuế theo Nghị định 49/2025/NĐ-CP: Những đổi mới pháp lý và thách thức triển khai https://vjol.info.vn/tckinhteluatvanganhang-hvnh/article/view/141790 <p>Các văn bản pháp luật trước đây không quy định cụ thể ngưỡng nợ để áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh mà căn cứ tình hình thực tế và công tác quản lý thuế trên địa bàn. Nghị định số 49/2025/NĐ-CP của Chính phủ ra đời đã kế thừa và sửa đổi, bổ sung quy định của các văn bản trước đó, trở thành biện pháp cưỡng chế hữu ích trong công tác thu hồi nợ thuế. Bài viết sử dụng phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp luật học trên cơ sở các văn bản pháp luật liên quan đến tạm hoãn xuất cảnh, qua đó nêu bật lên những điểm mới của Nghị định số 49/2025/NĐ-CP của Chính phủ về: (i) Đối tượng áp dụng; (ii) Ngưỡng tiền thuế nợ và thời gian nợ; (iii) Thông báo liên quan đến tạm hoãn và huỷ tạm hoãn xuất cảnh; đồng thời nêu lên một số vướng mắc trong quá trình thực hiện. Qua đó bài viết đề xuất một số kiến nghị giúp hoàn thiện quy định về tạm hoãn xuất cảnh trong thời gian tới như: cần nghiên cứu chuẩn hoá lại các trường hợp áp dụng tạm hoãn xuất cảnh; ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác tạm hoãn xuất cảnh, xem xét chuyển giao thẩm quyền ban hành tạm hoãn xuất cảnh sang cho cơ quan Tư pháp.</p> Trần Anh Huy Vũ Thị Phương Liên Trần Phương Linh Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng 2026-04-14 2026-04-14 289 10.59276/JELB.2026.04.3047 Thủ tục xóa thế chấp trong việc thực hiện giao dịch bảo đảm: Từ quy định pháp lý đến thực tiễn áp dụng tại Việt Nam https://vjol.info.vn/tckinhteluatvanganhang-hvnh/article/view/141791 <p>Bài viết phân tích thủ tục xóa thế chấp trong khuôn khổ pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng tại các Văn phòng đăng ký đất đai tại Việt Nam. Áp dụng phương pháp phân tích, đối chiếu quy phạm kết hợp với khai thác dữ liệu thực tiễn từ quy trình giải quyết hồ sơ tại một số Văn phòng đăng ký đất đai, nghiên cứu cho thấy tồn tại sự thiếu thống nhất: một số nơi cho phép thực hiện đồng thời việc xóa và đăng ký mới, trong khi nhiều nơi khác buộc phải xóa xong mới tiếp nhận giao dịch tiếp theo. Cách hiểu “xóa trước- đăng ký sau” không có căn cứ pháp lý, gây phát sinh thủ tục kép, kéo dài thời gian và tăng chi phí thực hiện. Trên cơ sở đó, bài viết kiến nghị rút ngắn thời hạn xử lý đối với trường hợp chỉ xóa, cho phép xử lý đồng thời khi có nhu cầu đăng ký mới, ban hành hướng dẫn liên ngành thống nhất, xây dựng cơ sở dữ liệu điện tử liên thông và tăng cường cơ chế phối hợp, giám sát. Nghiên cứu góp phần làm rõ sự khác biệt giữa bản chất pháp lý của việc chấm dứt thế chấp và cách thức áp dụng hành chính trong thực tiễn, từ đó đề xuất cải cách nhằm nâng cao tính minh bạch, tính thống nhất và hiệu quả của hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm.</p> Nguyễn Việt Cường Bản quyền (c) 2026-04-14 2026-04-14 289 10.59276/JELB.2026.04.3011 Quy định về xử lý tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trong các dự án bị chấm dứt đầu tư: Thực trạng và kiến nghị https://vjol.info.vn/tckinhteluatvanganhang-hvnh/article/view/141792 <p>Xử lý quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trong các dự án bị chấm dứt đầu tư đang đặt ra nhiều vấn đề pháp lý trong quản lý đất đai tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích luật viết, bình luận và so sánh các quy định của Luật Đất đai năm 2024, Nghị định 102/2024/NĐ-CP và Luật Đầu tư năm 2020, bài viết chỉ ra rằng việc cho phép nhà đầu tư tiếp tục sử dụng đất trong 24 tháng để chuyển quyền sử dụng đất, bán tài sản sau khi dự án đã bị chấm dứt chưa có sự đồng nhất trong quy định; chưa phân định rõ giữa xử lý tài sản và chuyển nhượng dự án, thiếu kiểm soát về thủ tục và chủ thể nhận đất, làm phát sinh nguy cơ đầu cơ, chuyển nhượng trá hình làm suy giảm hiệu quả quản lý đất đai. Từ đó, bài viết đề xuất hoàn thiện pháp luật theo hướng thu hẹp phạm vi xử lý tài sản, làm rõ ranh giới giữa các chế định pháp lý liên quan và tăng cường kiểm soát việc chuyển quyền sử dụng đất trong các dự án bị chấm dứt đầu tư, nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý tài nguyên đất.</p> Nguyễn Thành Phương Bản quyền (c) 2026-04-14 2026-04-14 289 10.59276/JELB.2026.04.3022 Tác động của bất định chính sách kinh tế đến biến động thị trường chứng khoán Việt Nam: Bằng chứng từ chỉ số EPU nội địa qua phương pháp ML-LLM và ARDL https://vjol.info.vn/tckinhteluatvanganhang-hvnh/article/view/141793 <p>Nghiên cứu này phân tích thực nghiệm tác động của bất định chính sách kinh tế (EPU) tới mức độ rủi ro và biến động của thị trường chứng khoán Việt Nam (được đo lường thông qua chỉ số VN-Index) trong giai đoạn 2008- 2025. Bằng cách ứng dụng kỹ thuật Machine Learning (thuật toán Logistic Regression) trên tập dữ liệu văn bản từ gần 500.000 bài báo kinh tế, nhóm nghiên cứu đã xây dựng chỉ số EPU nội địa cho Việt Nam. Sử dụng mô hình ARDL và NARDL, kết quả nghiên cứu gợi ý sự tồn tại của mối quan hệ đồng liên kết dài hạn bền vững giữa EPU và biến động VN-Index. Đặc biệt, nghiên cứu chỉ ra tính bất đối xứng trong phản ứng của thị trường, khi các cú sốc gia tăng bất định chính sách (tin xấu) làm gia tăng biên độ biến động thị trường mạnh mẽ hơn đáng kể so với hiệu ứng giảm biến động từ các cú sốc ổn định chính sách (tin tốt). Kết quả này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc minh bạch hóa lộ trình chính sách nhằm ổn định tâm lý nhà đầu tư và giảm thiểu rủi ro hệ thống tại thị trường chứng khoán Việt Nam.</p> Trần Việt Dũng Trương Hoàng Diệp Hương Bản quyền (c) 2026-04-14 2026-04-14 289 10.59276/JELB.2026.04.3189 Rủi ro chính sách và kiệt quệ tài chính của doanh nghiệp phi tài chính niêm yết tại Việt Nam https://vjol.info.vn/tckinhteluatvanganhang-hvnh/article/view/141798 <p>Nghiên cứu này nhằm phân tích tác động của rủi ro chính sách đến kiệt quệ tài chính của doanh nghiệp phi tài chính (loại trừ bất động sản) niêm yết tại Việt Nam giai đoạn 2016- 2024. Kiệt quệ tài chính được đo lường bằng Z’’-score và biến nhị phân xác định doanh nghiệp thuộc nhóm có Z-score thấp theo từng năm. Mô hình được ước lượng bằng phương pháp hồi quy đa hiệu ứng cố định, hấp thụ tác động cố định theo doanh nghiệp, ngành và năm; sai số chuẩn được cụm hóa theo doanh nghiệp nhằm xử lý phương sai thay đổi và tự tương quan theo chuỗi thời gian. Kết quả cho thấy các khía cạnh rủi ro chính sách đều làm suy giảm Z’’-score và gia tăng xác suất rơi vào kiệt quệ tài chính của doanh nghiệp, hàm ý rằng các cú sốc trong điều hành chính sách vĩ mô có thể làm suy yếu sức khỏe tài chính của doanh nghiệp và gia tăng rủi ro bất ổn ở cấp vi mô. Nghiên cứu góp phần cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động của ba thành phần rủi ro chính sách đến kiệt quệ tài chính trong bối cảnh nền kinh tế mới nổi. Việc sử dụng đồng thời thước đo liên tục và nhị phân của kiệt quệ tài chính, cùng phương pháp ước lượng tác động cố định đa chiều, giúp tăng cường độ tin cậy và tính vững của kết quả ước lượng. Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh vai trò của tính ổn định, minh bạch trong điều hành chính sách nhằm củng cố sức chống chịu tài chính của doanh nghiệp.</p> Dương Thị Thuỳ An Bản quyền (c) 2026-04-14 2026-04-14 289 10.59276/JELB.2026.04.3095 Hành vi chuyển đổi của khách hàng cá nhân trong lĩnh vực dịch vụ: Tổng quan hệ thống và định hướng nghiên cứu tương lai https://vjol.info.vn/tckinhteluatvanganhang-hvnh/article/view/141799 <p>Nghiên cứu này thực hiện tổng quan hệ thống 123 bài báo từ danh mục Web of Science và Scopus (1995- 2025) nhằm hệ thống hóa lý thuyết về hành vi chuyển đổi dịch vụ của khách hàng cá nhân (B2C). Kết quả cho thấy sự chuyển dịch quan trọng của khái niệm chuyển đổi từ rời bỏ hoàn toàn sang chuyển đổi một phần. Các nghiên cứu trước được phân loại thành ba dòng chính: quá trình chuyển đổi, so sánh nhóm khách hàng (chuyển đổi và trung thành) và các yếu tố tiền đề dẫn đến việc khách hàng cá nhân có hành vi chuyển đổi. Cụ thể, phân tích tổng hợp chỉ ra rằng sự hài lòng thấp và giá cả (yếu tố đẩy) cùng sự hấp dẫn của lựa chọn thay thế (yếu tố kéo) là động lực chính thúc đẩy hành vi, trong khi chi phí chuyển đổi, chuẩn chủ quan và tính ngại chuyển đổi (yếu tố neo) đóng vai trò điều tiết quan trọng. Bài viết cung cấp một khung phân tích cập nhật, đồng thời đề xuất các hướng nghiên cứu tương lai tập trung vào biến số cảm xúc và các yếu tố neo trong bối cảnh chuyển đổi số.</p> Trần Trọng Vũ Long Nguyễn Xuân Hưng Bản quyền (c) 2026-04-14 2026-04-14 289 10.59276/JELB.2026.04.3107 Sự vận động trong cấu trúc lợi thế so sánh của Việt Nam: Phân cụm RSCA ở cấp độ HS2 giai đoạn 2000- 2023 https://vjol.info.vn/tckinhteluatvanganhang-hvnh/article/view/141802 <p>Bài viết phân tích sự vận động trong cấu trúc lợi thế so sánh của Việt Nam ở cấp độ ngành HS 2 chữ số giai đoạn 2000- 2023. Sử dụng phân cụm K-means trên véc-tơ đặc trưng của sự vận động về mức lợi thế, độ biến động, độ bền, độ bất ổn và xu hướng, các ngành HS 2 chữ số được phân thành bốn cụm có mẫu hình vận động tương đối đồng nhất. Trên nền phân cụm, bài viết mô tả vai trò của từng cụm trong cơ cấu xuất khẩu và đóng góp vào tăng/giảm xuất khẩu qua thời gian, đồng thời đo lường mức tập trung nội bộ cụm. Ma trận chuyển trạng thái Markov được sử dụng sau đó để lượng hóa xác suất duy trì, hình thành và đánh mất lợi thế theo các giai đoạn. Kết quả cho thấy động lực tăng trưởng xuất khẩu dịch chuyển theo thời gian giữa các cụm, trong khi mức tập trung nội bộ khác biệt đáng kể. Từ đó, nghiên cứu hàm ý cách tiếp cận thiết kế chính sách theo hướng quản trị danh mục cân bằng rủi ro-tăng trưởng, trong đó gói chính sách cần được điều chỉnh theo đặc thù từng cụm để vừa khai thác động lực tăng trưởng, vừa giảm rủi ro tập trung và phụ thuộc.</p> An Như Hưng Bản quyền (c) 2026-04-14 2026-04-14 289 10.59276/JELB.2026.04.3139 Tác động của đòn bẩy tài chính đến hoạt động đầu tư: Tiếp cận bằng hồi quy phân vị đối với các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết tại Việt Nam https://vjol.info.vn/tckinhteluatvanganhang-hvnh/article/view/141803 <p>Nghiên cứu này phân tích mối quan hệ giữa hoạt động đầu tư (đo lường thông qua tỷ lệ đầu tư ròng) và mức độ sử dụng nợ vay tại 98 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết tại Việt Nam, không bao gồm các công ty bảo hiểm, ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng khác, trong giai đoạn 2016- 2023 bằng phương pháp hồi quy phân vị. Kết quả nghiên cứu cho thấy các doanh nghiệp sở hữu tỷ lệ đầu tư ròng cao, nghĩa là doanh nghiệp hiện đang đầu tư nhiều vào các loại tài sản cố định (máy móc, thiết bị, bất động sản…), thì khi tăng cường sử dụng nợ vay, sẽ có xu hướng giảm mức độ đầu tư mạnh hơn so với các doanh nghiệp có tỷ lệ đầu tư ròng thấp. Từ đó, một số hàm ý chính sách được đề xuất liên quan đến các quyết định tài trợ và sử dụng nợ vay nhằm hướng tới duy trì hoạt động đầu tư doanh nghiệp bền vững.</p> Nguyễn Việt Hồng Anh Phạm Thanh Truyền Bản quyền (c) 2026-04-14 2026-04-14 289 10.59276/JELB.2026.04.2912 Tác động của các nhân tố vĩ mô đến thị trường chứng khoán Việt Nam https://vjol.info.vn/tckinhteluatvanganhang-hvnh/article/view/141810 <p>Bài nghiên cứu nhằm mục tiêu phân tích sự ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô và giá Bitcoin đến tăng trưởng giá trị thị trường chứng khoán tại Việt Nam. Chỉ số VN-Index được dùng để đại diện cho tăng trưởng giá trị thị trường chứng khoán Việt Nam vì vốn hoá của sàn HOSE chiếm hơn 93,3% tổng giá trị vốn hóa toàn thị trường vào cuối năm 2023. Các nhân tố vĩ mô bao gồm tăng trưởng sản xuất công nghiệp, tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu, lạm phát, tăng trưởng cung tiền và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Nghiên cứu sử dụng mô hình phân phối trễ tự hồi quy với dữ liệu chuỗi thời gian từ năm 2011- 2023. Kết quả ước lượng cho thấy giá Bitcoin, tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu, tăng trưởng cung tiền và vốn FDI tác động tích cực đến VN-Index, trong khi tăng trưởng sản xuất công nghiệp có tác động ngược chiều cả trong ngắn hạn và dài hạn. Lạm phát, được đo lường thông qua chỉ số giá tiêu dùng, ảnh hưởng tích cực trong ngắn hạn nhưng không đáng kể trong dài hạn. Nghiên cứu đề xuất hàm ý chính sách tập trung vào hoàn thiện pháp lý tiền điện tử, tăng cường minh bạch thị trường chứng khoán, thúc đẩy xuất khẩu, kiểm soát lạm phát và cung tiền linh hoạt, và việc cải thiện môi trường đầu tư.</p> Lê Thông Tiến Nguyễn Thị Minh Thư Bản quyền (c) 2026-04-14 2026-04-14 289 10.59276/JELB.2026.04.3024 Tác động của trao quyền cho nhân viên tới hiệu quả hệ thống thông tin kế toán: Vai trò trung gian của nhận thức quản lý trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam https://vjol.info.vn/tckinhteluatvanganhang-hvnh/article/view/141818 <p>Bài báo này đánh giá mối quan hệ giữa trao quyền cho nhân viên, nhận thức quản lý và hiệu quả của hệ thống thông tin kế toán, trong đó nhận thức quản lý đóng vai trò trung gian giữa trao quyền cho nhân viên và hiệu quả của hệ thống thông tin kế toán. Kết quả ước lượng, với mẫu khảo sát là 219 doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam tại Việt Nam từ tháng 7/2024 đến hết tháng 9/2024 bằng mô hình PLS-SEM, chỉ ra rằng trao quyền cho nhân viên và nhận thức quản lý tác động tích cực tới hiệu quả hệ thống thông tin kế toán. Bên cạnh đó, nhận thức quản lý còn đóng vai trò trung gian một phần trong mối quan hệ giữa trao quyền cho nhân viên và hiệu quả hệ thống thông tin kế toán. Kết quả từ nghiên cứu này sẽ giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam hiểu được tầm quan trọng của trao quyền cho nhân viên và nhận thức quản lý trong việc gia tăng hiệu quả của hệ thống thông tin kế toán, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của toàn doanh nghiệp.</p> Nguyễn Duy Thành Nguyễn Thị Hồng Anh Bản quyền (c) 2026-04-14 2026-04-14 289 10.59276/JELB.2026.04.2908 Đánh giá khoảng cách giữa yêu cầu chính sách và năng lực an toàn thông tin tại Hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân Việt Nam https://vjol.info.vn/tckinhteluatvanganhang-hvnh/article/view/141822 <p>Nghiên cứu đo lường khoảng cách giữa ngưỡng yêu cầu tối thiểu tại mốc năm 2025 và năng lực an toàn thông tin thực tế của hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân Việt Nam, qua đó rút ra hàm ý cho giai đoạn chuyển đổi số 2026-2030. Trên mẫu 1.068 quỹ tín dụng nhân dân hợp lệ và khung phân tích kết hợp lý thuyết thể chế với quan điểm dựa trên nguồn lực (RBV), kết quả cho thấy điểm an toàn thông tin trung bình toàn hệ thống đạt 1,89/5,0; 87,73% đơn vị nằm dưới ngưỡng tối thiểu E = 2,5. Phân rã theo Khung an ninh mạng NIST cho thấy thiếu hụt tập trung ở các năng lực vận hành, đặc biệt là các pha Phát hiện và Phục hồi, trong khi lớp thiết lập/tuân thủ đạt mức cao hơn. Kết quả đồng thời gợi ý sự lệch pha giữa lớp thiết lập/tuân thủ và lớp thực thi vận hành. Từ đó, nghiên cứu đề xuất chuyển trọng tâm quản lý từ kiểm soát tuân thủ sang kiến tạo năng lực thông qua dịch vụ dùng chung và nguyên tắc tương xứng theo quy mô.</p> Chu Thị Hồng Hải Phan Thanh Đức Triệu Thu Hương Lưu Quang Hà Bản quyền (c) 2026-04-14 2026-04-14 289 10.59276/JELB.2026.04.3153 Phân nhóm doanh nghiệp ngành bất động sản bằng phân tích dữ liệu đa hợp dựa trên mô hình DuPont https://vjol.info.vn/tckinhteluatvanganhang-hvnh/article/view/141826 <p>Nghiên cứu này tiến hành phân tích phân nhóm các doanh nghiệp bất động sản niêm yết tại Việt Nam giai đoạn 2012- 2023 bằng phương pháp phân tích dữ liệu đa hợp (CoDa) dựa trên mô hình DuPont. Bộ dữ liệu gồm 63 doanh nghiệp với 621 quan sát được thu thập từ ba sàn HOSE, HNX và UPCOM. Kết quả chỉ ra ba nhóm doanh nghiệp có đặc trưng tài chính khác biệt. Nhóm 1 chiếm đa số, duy trì tỷ trọng nợ dài hạn khoảng 45% tổng nợ và đạt hiệu quả sinh lời ổn định. Nhóm 2 có mức sinh lời tương tự nhưng gần như không sử dụng nợ dài hạn, phản ánh chiến lược thận trọng và ít phổ biến. Nhóm 3, mặc dù sử dụng đòn bẩy tài chính cao nhất, lại có ROA và ROE thấp, thể hiện rủi ro khi lạm dụng nợ. Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh vai trò của cơ cấu vốn, đặc biệt là nợ dài hạn, trong việc duy trì khả năng sinh lời và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bất động sản; cung cấp cơ sở tham khảo cho các nhà quản trị, nhà đầu tư và nhà hoạch định chính sách, nhằm đánh giá sức khỏe tài chính của doanh nghiệp, xây dựng chiến lược phát triển bền vững và đưa ra quyết định đầu tư phù hợp với điều kiện thị trường.</p> Trịnh Thị Hường Nguyễn Anh Tuấn Bản quyền (c) 2026-04-14 2026-04-14 289 10.59276/JELB.2026.04.3070