Tạp chí Sức khoẻ và Lão hoá https://vjol.info.vn/tcsuckhoevalaohoa <p><strong>Tạp chí của</strong> <strong>Bệnh viện Thống Nhất</strong></p> vi-VN banthuky@tcsuckhoelaohoa.vn (Tạp chí Sức khỏe và Lão hóa) lienhe@tcsuckhoelaohoa.vn (Huỳnh Nguyên Thuận) Fri, 27 Feb 2026 00:00:00 +0700 OJS 3.1.2.4 http://blogs.law.harvard.edu/tech/rss 60 NGHIÊN CỨU DỊCH TỄ HỌC TRONG BỆNH VIỆN: NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý VỀ THIẾT KẾ VÀ DIỄN GIẢI https://vjol.info.vn/tcsuckhoevalaohoa/article/view/137900 <p>Phần lớn các nghiên cứu dịch tễ học và nghiên cứu lâm sàng quan sát tại Việt&nbsp;Nam được thực hiện trên bệnh nhân nhập viện và thường không có nhóm chứng. Mặc dù có&nbsp;tính thực tiễn và thuận lợi về mặt dữ liệu, các nghiên cứu này thường được sử dụng để trả lời&nbsp;những câu hỏi vượt quá khả năng suy luận của thiết kế. Trong bài này tôi phân tích các hạn chế&nbsp;phương pháp của nghiên cứu dịch tễ học dựa trên bệnh nhân trong bệnh viện, đặc biệt trong&nbsp;trường hợp không có nhóm chứng, trong bối cảnh nghiên cứu y học tại Việt Nam. Dựa trên&nbsp;phân tích khái niệm và nguyên lý dịch tễ học, bài viết thảo luận các nguồn sai lệch thường gặp&nbsp;trong nghiên cứu bệnh viện, bao gồm sai lệch chọn mẫu, sai lệch đồng căn (collider bias), thiếu&nbsp;nhóm chứng, và hiện tượng hồi quy về trung bình. Bệnh nhân nhập viện là một quần thể đã qua&nbsp;chọn lọc, chịu ảnh hưởng không chỉ bởi mức độ bệnh mà còn bởi khả năng tiếp cận y tế, tuyến&nbsp;chuyển viện và các yếu tố xã hội. Việc điều kiện hóa phân tích trên nhóm đã nhập viện có thể&nbsp;làm lệch mối liên quan giữa phơi nhiễm và bệnh, tạo ra các mối liên quan giả tạo hoặc làm mờ&nbsp;mối quan hệ nhân quả thực sự. Khi thiếu nhóm chứng, các mối liên quan quan sát dễ bị diễn&nbsp;giải sai như yếu tố nguy cơ ở mức quần thể. Các nghiên cứu trước–sau trong bệnh viện còn dễ&nbsp;bị ảnh hưởng bởi hiện tượng hồi quy về trung bình, dẫn đến đánh giá sai hiệu quả can thiệp.&nbsp;Các mô hình tiên lượng xây dựng từ dữ liệu nội viện có thể vận hành tốt trong bối cảnh huấn&nbsp;luyện nhưng khó khái quát ra ngoài bệnh viện. Nghiên cứu dựa trên bệnh nhân nhập viện vẫn&nbsp;có giá trị quan trọng trong mô tả bệnh nặng, tiên lượng nội viện và đánh giá quy trình chăm&nbsp;sóc. Tuy nhiên, phạm vi suy luận của thiết kế này là có giới hạn. Việc nhận diện rõ các giới hạn&nbsp;phương pháp và gắn chặt diễn giải kết quả với điều kiện chọn mẫu là cần thiết để tránh những&nbsp;kết luận sai lệch và nâng cao chất lượng nghiên cứu y học tại Việt Nam.</p> Nguyễn Văn Tuấn Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/tcsuckhoevalaohoa/article/view/137900 Fri, 27 Feb 2026 00:00:00 +0700 ỨNG DỤNG CT PHỔ TRONG ĐÁNH GIÁ BỆNH LÝ ĐỘNG MẠCH VÀNH TẠI BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT https://vjol.info.vn/tcsuckhoevalaohoa/article/view/137901 <p>Tại Bệnh viện Thống Nhất, thành phố Hồ Chí Minh, hệ thống máy CT phổ đã mang lại những bước tiến đáng kể trong chẩn đoán bệnh lý mạch vành. Các ứng dụng xử lý hậu kỳ của CT phổ được sử dụng bao gồm: hình ảnh đơn sắc ảo (MonoE), số hiệu nguyên tử hiệu dụng (Z-effective), bản đồ phân bố I-ốt, hình ảnh không tiêm cản quang ảo (VNC), hình ảnh tăng cương cấu trúc ngấm thuốc. Các loại hình ảnh đa dạng thu được từ kỹ thuật CT phổ mang lại nhiều lợi ích như giảm liều thuốc cản quang cho bệnh nhân, giảm xảo ảnh nâng cao chất lượng hình ảnh từ đó giúp đánh giá chính xác hơn mức độ hẹp mạch vành. Bản đồ I-ốt còn giúp đánh giá tình trạng tưới máu cơ tim, cung cấp thông tin toàn diện và chính xác hơn về bệnh lý mạch vành. Việc sử dụng VNC để tính điểm vôi hóa thay thế cho phim không thuốc thật (TNC) đang trong giai đoạn nghiên cứu tại Bệnh viện Thống Nhất với những kết quả ban đầu khả quan, hứa hẹn sẽ thay thế TNC trong đánh giá CS, từ đó giảm liều tia cho bệnh nhân. Bài viết này xin trình bày các ứng dụng của CT phổ và các ca lâm sàng thực tế tại BV Thống Nhất - TP Hồ Chí Minh nhằm làm rõ ứng dụng của CT phổ trong đánh giá bệnh lý mạch vành.</p> Huỳnh Nguyên Thuận, Bùi Thị Thanh Tâm, Trần Thị Hậu, Trần Thanh Phong, Trần An Khang, Đỗ Võ Công Nguyên Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/tcsuckhoevalaohoa/article/view/137901 Fri, 27 Feb 2026 00:00:00 +0700 CẢI THIỆN THĂNG BẰNG Ở NGƯỜI CAO TUỔI VỚI TAEKWONDO https://vjol.info.vn/tcsuckhoevalaohoa/article/view/137902 <p>Rối loạn thăng bằng ở người cao tuổi có thể trực tiếp gây té ngã, dẫn tới chấn thương, giảm chất lượng sống và tăng phụ thuộc sinh hoạt. Nhằm đa dạng hóa loại hình bài tập điều hòa thần kinh – cơ, các bằng chứng về hiệu quả của Taekwondo được tổng quan lại. Thực hiện tìm kiếm bằng các từ khóa liên quan &nbsp;ghi nhận kết quả Taekwondo cải thiện đáng kể các chỉ số đo lường khả năng thăng bằng tĩnh và động cho nhóm người trên 65 tuổi, ngoài ra kết quả còn gợi ý Taekwondo có tăng tuân thủ luyện tập cho người tham gia. Điều này giúp tăng vai trò của Taekwondo như một loại hình luyện tập cải thiện khả năng thăng bằng cho người cao tuổi, tuy nhiên vẫn cần nhiều bằng chứng chất lượng hơn trong tương lai.</p> Trần Bình Minh Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/tcsuckhoevalaohoa/article/view/137902 Fri, 27 Feb 2026 00:00:00 +0700 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ GIẢM ĐAU CỦA PHẪU THUẬT VERTEBROPLASTY - BƠM XI MĂNG SINH HỌC KHÔNG BÓNG TRÊN BỆNH NHÂN XẸP ĐỐT SỐNG DO LOÃNG XƯƠNG https://vjol.info.vn/tcsuckhoevalaohoa/article/view/137903 <p>Xẹp đốt sống do loãng xương là nguyên nhân chính gây đau lưng và giảm chất lượng cột sống ở người cao tuổi.&nbsp;Đánh giá hiệu quả giảm đau của vertebroplasty ở bệnh nhân xẹp đốt sống do loãng xương. Nghiên cứu tiến cứu 26 bệnh nhân, đánh giá điểm VAS, Macnab và ODI trước và sau bơm xi măng, phân tích theo số lượng đốt xẹp. Điểm VAS giảm rõ rệt từ 4,85 ± 0,61 xuống 1,81 ± 0,49 sau phẫu thuật (p &lt; 0,001). Điểm Macnab và ODI cũng cải thiện đáng kể, hiệu quả giảm đau ghi nhận ở cả nhóm xẹp nhiều đốt.&nbsp;Vertebroplasty là phương pháp ít xâm lấn có hiệu quả trong giảm đau và cải thiện chức năng cột sống ở bệnh nhân cao tuổi bị xẹp một và nhiều đốt sống do loãng xương.</p> Trần Hữu Tài, Trần Thanh Tuyền Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/tcsuckhoevalaohoa/article/view/137903 Fri, 27 Feb 2026 00:00:00 +0700 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ VIÊM QUANH KHỚP VAI THỂ ĐƠN THUẦN BẰNG HUYẾT TƯƠNG GIÀU TIỂU CẦU TỰ THÂN TẠI BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT https://vjol.info.vn/tcsuckhoevalaohoa/article/view/137960 <p>Huyết tương giàu tiểu cầu tự thân (Platelet-Rich Plasma – PRP) là một liệu pháp sinh&nbsp;học đang được ứng dụng ngày càng phổ biến trong lĩnh vực y học thể thao và phục hồi chức&nbsp;năng, đặc biệt trong điều trị các bệnh lý phần mềm quanh khớp vai. Nghiên cứu nhằm đánh giá&nbsp;hiệu quả điều trị viêm quanh khớp vai thể đơn thuần bằng PRP tự thân sau thời gian theo dõi&nbsp;4 tháng, đồng thời phân tích một số yếu tố liên quan đến kết quả điều trị. Tổng cộng 30 người&nbsp;bệnh được chẩn đoán viêm quanh khớp vai thể đơn thuần đã được chỉ định tiêm PRP tự thân&nbsp;trong nghiên cứu can thiệp lâm sàng theo dõi dọc. Kết quả cho thấy sau 4 tháng điều trị, điểm&nbsp;đau VAS trung bình giảm rõ rệt từ 5,6 xuống còn 2,6; đi kèm với sự cải thiện các tổn thương trên&nbsp;hình ảnh siêu âm. Hiệu quả giảm đau ghi nhận rõ hơn ở nhóm người bệnh trẻ tuổi. Tác dụng&nbsp;không mong muốn chủ yếu là đau tại vị trí tiêm, mức độ nhẹ và tự hết sau khoảng 3 ngày. Kết&nbsp;quả nghiên cứu cho thấy PRP tự thân là phương pháp điều trị an toàn, hiệu quả trong điều trị&nbsp;viêm quanh khớp vai, đặc biệt ở nhóm người bệnh trẻ.</p> Võ Thành Toàn, Nguyễn Phi Trình, Nguyễn Trọng Sỹ Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/tcsuckhoevalaohoa/article/view/137960 Fri, 27 Feb 2026 00:00:00 +0700 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SỚM VÀ TRUNG HẠN CỦA PHẪU THUẬT NỘI SOI CẮT ĐẠI TRÀNG PHẢI, NẠO HẠCH Ở BỆNH NHÂN CAO TUỔI https://vjol.info.vn/tcsuckhoevalaohoa/article/view/137964 <p>Đánh giá tính an toàn và hiệu quả trung hạn của phẫu thuật nội soi cắt đại tràng&nbsp;phải nạo hạch ở bệnh nhân cao tuổi (≥65 tuổi). Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 52 bệnh nhân&nbsp;≥65 tuổi được phẫu thuật nội soi cắt đại tràng phải triệt căn kèm nạo hạch tại Bệnh viện Thống&nbsp;Nhất từ 01/2020 đến 01/2025. Phân tích số liệu được thực hiện bằng phần mềm SPSS 25.0. Tỷ&nbsp;lệ biến chứng sớm là 15,4%, tử vong 30 ngày là 1,9%. Số hạch nạo vét trung bình là 13,2 (92,3%&nbsp;bệnh nhân đạt ≥12 hạch). Tỷ lệ sống thêm không bệnh (DFS) và sống thêm chung (OS) sau&nbsp;36 tháng lần lượt là 62,5% và 68,9%. Chỉ 55,6% số bệnh nhân có chỉ định hoàn tất hóa trị bổ&nbsp;trợ. Phẫu thuật nội soi cắt đại tràng phải an toàn, khả thi và đảm bảo nguyên tắc ung thư học&nbsp;ở bệnh nhân cao tuổi. Kết quả sống còn trung hạn bị ảnh hưởng bởi tỷ lệ hoàn tất điều trị bổ&nbsp;trợ thấp.</p> Đỗ Duy Đạt, Nguyễn Văn Hưng, Hồ Lê Bảo Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/tcsuckhoevalaohoa/article/view/137964 Fri, 27 Feb 2026 00:00:00 +0700 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, HÌNH ẢNH HỌC VÀ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT MÁU TỤ DƯỚI MÀNG CỨNG MẠN TÍNH TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA KHU VỰC LONG KHÁNH TỪ NĂM 2021 –2024 https://vjol.info.vn/tcsuckhoevalaohoa/article/view/137973 <p>Máu tụ dưới màng cứng mạn tính là một bệnh lý thường gặp ở người lớn tuổi, đa số các bệnh nhân có tiền sử chấn thương trước đó với triệu chứng đau đầu và nặng dần nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời Mô tả đặc điểm lâm sàng, hình ảnh học và kết quả phẫu thuật máu tụ dưới màng cứng mạn tính tại Bệnh Viện Đa Khoa Khu Vực Long Khánh từ năm 2021 – 2024;&nbsp;34 bệnh nhân đã được chẩn đoán máu tụ dưới màng cứng mạn tính và được điều trị bằng phẫu thuật mổ dẫn lưu máu tụ mạn tính bằng khoan sọ một lỗ tại tại Bệnh Viện Đa Khoa Khu Vực Long Khánh từ tháng 01/2021 – 09/2024. Độ tuổi trung bình&nbsp; là: 68.4 ± 16.9 năm. Bao gồm 30 bệnh nhân là nam giới chiếm 88.2% và 4 trường hợp nữ giới chiếm 11,8%. Nguyên nhân do chấn thương chiếm 52,9% , trong đó nguyên nhân do té ngã 29,4 % (10/34 trường hợp). Nhóm triệu chứng yếu liệt chiếm phần lớn với tỉ lệ 64,7%, đau đầu chiếm 55,8%, thay đổi tri giác 23,5%, thất ngôn 20,6%. Tình trạng chấn thương sọ não nhẹ (GCS 13-15 điểm) chiếm 76,5 %),hôn mê có 3 trường hợp chiếm 8,8%.Chụp cắt lớp vi tính: Độ dày khối máu tụ trung bình: 21.1 ± 6.3 mm. Đẩy lệch đường giữa trung bình: 9.4 ± 4.8 mm có 24 cas máu tụ dưới màng cứng 1 bên chiếm 70,6%. Phương pháp mổ: 100% bệnh nhân khoan sọ 1 lỗ. Có 88.2% bệnh nhân có GCS 15đ sau mổ. Biến chứng: Nhiễm trùng 0% Chảy máu 0%, chảy máu tái phát: 4 trường hợp trong đó 2 trường hợp điều trị nội khoa 1 trường hợp mổ lại sau đó 3 tuần, tử vong 1 cas chiếm 2.9%. Thời gian nằm viện trung bình 10,7 ± 5,4 ngày, ngắn nhất 5 ngày dài nhất 25 ngày. Bệnh nhân ra viện có kết quả tốt chiếm đa số với tỉ lệ 73,5%, bệnh nhân có giảm đỡ chiếm 26,5%.Sau 1 tháng phần lớn bệnh nhân phục hồi tốt có thể quay trở lại trở lại cuộc sống bình thường đạt tỉ lệ 73,5% (25/34 trường hợp). Phẫu thuật tụ máu dưới màng cứng mạn tính bằng khoan sọ một lỗ mang lại hiệu quả, kết quả tốt, ít tai biến, biến chứng. Bệnh nhân quay trở lại hòa nhập cuộc sống tốt ít để lại di chứng.</p> Đặng Ngọc Bun, Phạm Nhật Thành, Bùi Phước Đoàn Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/tcsuckhoevalaohoa/article/view/137973 Fri, 27 Feb 2026 00:00:00 +0700 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ VẬN ĐỘNG SỚM CỦA NGƯỜI BỆNH SAU PHẪU THUẬT U ĐƯỜNG TIÊU HOÁ TẠI BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT https://vjol.info.vn/tcsuckhoevalaohoa/article/view/137980 <p>Đánh giá hiệu quả của vận động sớm trên người bệnh sau phẫu thuật u đường tiêu&nbsp;hóa. Nghiên cứu cắt ngang mô tả thực hiện trên 78 bệnh nhân nhập viện và điều trị phẫu thuật&nbsp;u đường tiêu hoá tại khoa Ngoại Tiêu hoá – Bệnh viện Thống Nhất từ tháng 10/2024 đến tháng&nbsp;6/2025. Các thông tin về tuổi, giới, thời gian trung tiện, điểm đau VAS, thời gian đứng lên và đi&nbsp;theo test Timed Up and Go, biến chứng, thời gian xuất viện được thu thập và phân tích. Thời&nbsp;điểm can thiệp hỗ trợ vật lý trị liệu sau phẫu thuật thường vào ngày thứ 2. Các bệnh nhân vận&nbsp;động sớm thường có thời gian xuất hiện trung tiện sớm hơn, thời gian nằm viện ngắn hơn,&nbsp;điểm đau VAS (Visual Analogue Scale) thấp hơn và thời gian thực hiện test Timed Up and Go&nbsp;tại các thời điểm 1, 3 và 7 ngày sau phẫu thuật ngắn hơn so với nhóm không vận động sớm.&nbsp;Nghiên cứu cho thấy nhóm vận động sớm sau phẫu thuật có thời gian xuất hiện trung tiện sớm&nbsp;hơn, thời gian nằm viện được rút ngắn hơn, mức độ đau thấp hơn và khả năng vận động tốt&nbsp;hơn nhóm còn lại.</p> Huỳnh Tấn Lộc, Trần Thị Kim Tuyết, Nguyễn Ngọc Cẩm Tú, Lê Quang Tiến, Trần Viễn An Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/tcsuckhoevalaohoa/article/view/137980 Fri, 27 Feb 2026 00:00:00 +0700 LIỀU XE ĐẠP TĨNH TRONG GIẢM ĐAU THOÁI HÓA KHỚP GỐI Ở NGƯỜI CAO TUỔI https://vjol.info.vn/tcsuckhoevalaohoa/article/view/137983 <p>Tổng quan hệ thống nhằm xác định liều can thiệp có hiệu quả giảm đau và phù hợp nhóm đối tượng thoái hóa khớp gối từ 60 tuổi trở lên với can thiệp xe đạp tĩnh. Tổng quan theo hướng dẫn PRISMA 2020, tìm kiếm trên PubMed, Cochrane Library và PEDro các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng, báo cáo rõ liều can thiệp. Kết quả chính là giảm đau, đánh giá bằng các thang điểm như KOOS, WOMAC và AIMS2. Năm nghiên cứu với tổng cộng 377 bệnh nhân được đưa vào phân tích. Cả 5 nghiên cứu ghi nhận giảm đau có ý nghĩa thống kê so với ban đầu hoặc nhóm đối chứng. Liều can thiệp được tổng hợp bao gồm tổng thời gian 8–24 tuần, tần suất 3–7 buổi mỗi tuần, thời gian mỗi buổi 25–60 phút, với cường độ từ 40–85% tần số tim tối đa hoặc 60–110 vòng bàn đạp mỗi phút. Không ghi nhận biến cố bất lợi liên quan đến can thiệp. Tuy nhiên, toàn bộ các nghiên cứu đều có nguy cơ cao sai lệch, chủ yếu do không thể làm mù người tham gia và sử dụng các thang điểm tự báo cáo. Xe đạp tĩnh là một can thiệp có hiệu quả trong giảm đau cho người cao tuổi với thoái hóa khớp gối, nhưng việc áp dụng liều luyện tập cần được diễn giải thận trọng và cá thể hóa.</p> Trần Bình Minh, Trương Quốc Tân Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/tcsuckhoevalaohoa/article/view/137983 Fri, 27 Feb 2026 00:00:00 +0700 KHẢO SÁT VIỆC ĐIỀU TRỊ VIÊM PHỔI MẮC PHẢI CỘNG ĐỒNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA KHU VỰC HÓC MÔN https://vjol.info.vn/tcsuckhoevalaohoa/article/view/137987 <p>Việc điều trị viêm phổi mắc phải cộng đồng (VPMPCĐ) ngày càng khó khăn do sự&nbsp;gia tăng đề kháng kháng sinh của vi khuẩn. Sử dụng kháng sinh hợp lý là vấn đề quan trọng&nbsp;quyết định hiệu quả điều trị cho bệnh nhân VPMPCĐ. Khảo sát tình hình đề kháng và việc&nbsp;sử dụng kháng sinh trong điều trị viêm phổi mắc phải cộng đồng tại Bệnh viện Đa khoa Khu&nbsp;vực Hóc Môn. Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 270 hồ sơ bệnh án của bệnh nhân nội trú&nbsp;có chẩn đoán VPMPCĐ từ tháng 7/2024 đến hết tháng 9/2024. Tuổi trung vị của bệnh nhân&nbsp;nghiên cứu là 69 (59–77), phần lớn bệnh nhân trên 65 tuổi (65,2%). Vi khuẩn Gram âm chiếm&nbsp;93,2%, phổ biến là Klebsiella pneumoniae (24,1%), Pseudomonas aeruginosa (15,5%). Klebsiella&nbsp;pneumoniae có tỷ lệ nhạy cảm với nhóm beta-lactam phối hợp với chất ức chế betalactamase&nbsp;từ 70–100%. Pseudomonas aeruginosa có tỷ lệ nhạy cảm khá cao (89–100%). Kháng sinh kinh&nbsp;nghiệm được sử dụng nhiều nhất là ceftriaxon (51,9%) và levofloxacin (40,4%). Tính phù hợp&nbsp;chung của kháng sinh kinh nghiệm là 41,5%. Tuổi cao, điểm Charlson tăng, điểm CURB-65 cao,&nbsp;khoa điều trị ICU là những yếu tố làm tăng thất bại điều trị. Các kháng sinh được khuyến cáo&nbsp;trong điều trị VPMPCĐ vẫn còn nhạy cảm tương đối tốt trên các tác nhân gây bệnh thường&nbsp;gặp tại bệnh viện. Việc tuân thủ hướng dẫn điều trị trong lựa chọn kháng sinh kinh nghiệm&nbsp;chưa cao, từ đó nhấn mạnh cần có các biện pháp can thiệp phù hợp để tăng cường việc sử&nbsp;dụng kháng sinh hợp lý, nâng cao chất lượng điều trị nhiễm khuẩn tại bệnh viện đa khoa khu&nbsp;vực Hóc Môn</p> Huỳnh Hoàng Hậu, Bùi Thị Hương Quỳnh Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/tcsuckhoevalaohoa/article/view/137987 Fri, 27 Feb 2026 00:00:00 +0700 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC ĐIỀU TRỊ THOÁI HÓA KHỚP GỐI, KHỚP HÁNG, KHỚP CỔ - BÀN NGÓN TAY CỦA NGƯỜI BỆNH NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 2016 - 2024 https://vjol.info.vn/tcsuckhoevalaohoa/article/view/137991 <p>Thoái hóa khớp là bệnh lý cơ xương khớp mạn tính phổ biến, gây đau, hạn chế vận động và làm giảm chất lượng cuộc sống, trong đó thoái hóa khớp gối, háng và các khớp bàn tay là những thể bệnh thường gặp. Nghiên cứu mô tả đặc điểm người bệnh và tình hình sử dụng thuốc điều trị thoái hóa khớp ở người bệnh ngoại trú tại Bệnh viện Thống Nhất trong giai đoạn 2016–2024. Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu được thực hiện trên 40.916 người bệnh ≥18 tuổi được chẩn đoán thoái hóa khớp theo ICD-10 (M16, M17, M18), dựa trên dữ liệu hồ sơ bệnh án điện tử. Kết quả cho thấy thoái hóa khớp gối chiếm tỷ lệ cao nhất (97,3%), tuổi trung bình của người bệnh khoảng 59 tuổi, phần lớn thuộc nhóm tuổi 30–65 và trên 65, với tỷ lệ bệnh kèm cao, đặc biệt là các bệnh tim mạch và rối loạn chuyển hóa. NSAID đường uống là nhóm thuốc được sử dụng phổ biến nhất (66,2%), tiếp theo là thuốc giảm đau và NSAID dùng ngoài da. Phân tích mạng lưới đồng kê đơn cho thấy NSAID đường uống đóng vai trò trung tâm trong hầu hết các mô hình phối hợp thuốc, đặc biệt ở người bệnh thoái hóa khớp gối, với mức độ phối hợp thuốc cao hơn so với các vị trí khớp khác. Nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực tiễn về đặc điểm người bệnh và mô hình sử dụng thuốc điều trị thoái hóa khớp ngoại trú, góp phần định hướng cá thể hóa điều trị và hoàn thiện hướng dẫn điều trị phù hợp với bối cảnh lâm sàng tại Việt Nam.</p> Trần Thị Hồng Nguyên, Nguyễn Hữu Thiên Bảo, Quang Ánh Nguyệt, Nguyễn Thị Quỳnh Nga, Trần Thị Phương Mai, Phạm Thị Thu Hiền, Đặng Thị Kiều Nga Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/tcsuckhoevalaohoa/article/view/137991 Fri, 27 Feb 2026 00:00:00 +0700 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC VÀ MỨC ĐỘ TUÂN THỦ STATIN TRONG ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN LIPID MÁU TẠI BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 2016-2023 https://vjol.info.vn/tcsuckhoevalaohoa/article/view/137994 <p>Rối loạn lipid máu (RLLM) là yếu tố nguy cơ chính bệnh tim mạch, statin là thuốc điều trị đầu tay. Mức độ tuân thủ điều trị statin có tác động đáng kể đến hiệu quả điều trị của người bệnh. Nghiên cứu thực hiện nhằm đánh giá tình hình sử dụng thuốc và mức độ tuân thủ statin tại Bệnh viện Thống Nhất giai đoạn 2016-2023. Hồi cứu mô tả cắt ngang trên 23.373 người bệnh (NB) ngoại trú mắc RLLM (ICD-10: E78) có thời gian điều trị liên tục ≥1 năm. Phân tích đặc điểm nhân khẩu học, bệnh mắc kèm (CCI) và thông tin kê đơn; mức độ tuân thủ statin đánh giá bằng MPR và PDC, ngưỡng tuân thủ tốt: MPR &gt;80% và PDC ≥80%. Tuổi trung bình là 66,1 ± 12,2, trong đó 72% NB ≥60 tuổi và có gánh nặng đa bệnh lý cao (CCI trung bình 5,91). Trong 461.435 lượt khám có kê thuốc điều trị, statin chiếm 96,4%, chủ yếu là rosuvastatin và atorvastatin ở liều trung bình. Tỷ lệ sử dụng phối hợp liều cố định (FDC) tăng từ 10,1% (2016) lên 25,5% (2023). Mức độ tuân thủ thấp, với MPR trung bình 0,33 và PDC 0,30, chỉ 5,64% NB đạt MPR &gt;80% và 3,53% đạt PDC ≥80%. Nghiên cứu cho thấy statin được sử dụng chủ yếu trong điều trị RLLM với xu hướng gia tăng sử dụng FDC, tuy nhiên mức độ tuân thủ thấp.</p> Nguyễn Thanh Huy, Lê Hoàng Minh Tâm, Trần Ngọc Thiên Phú , Quang Ánh Nguyệt, Phạm Thị Thu Hiền, Phạm Đình Luyến Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/tcsuckhoevalaohoa/article/view/137994 Fri, 27 Feb 2026 00:00:00 +0700 KHẢO SÁT DẤU ẤN MIỄN DỊCH Ở BỆNH LÝ HUYẾT HỌC BẰNG KỸ THUẬT FLOW CYTOMETRY https://vjol.info.vn/tcsuckhoevalaohoa/article/view/137997 <p>Nghiên cứu với mục tiêu nhằm mô tả đặc điểm các bệnh lý huyết học thường gặp thông qua khảo sát dấu ấn miễn dịch bằng kỹ thuật Flow Cytometry (FCM) với phương pháp nghiên cứu là mô tả hồi cứu hàng loạt ca được thực hiện trên tất cả bệnh nhân từ 16 tuổi trở lên được chỉ định xét nghiệm FCM tại khoa Huyết học, Bệnh viện Thống Nhất từ tháng 01/2023 đến tháng 03/2025. Cỡ mẫu là lấy mẫu thuận tiện. Dữ liệu được phân tích bằng phần mềm Microsoft Excel 2021. Kết quả tổng cộng 104 bệnh nhân đã được thực hiện xét nghiệm tế bào theo dòng chảy (FCM) tại khoa Huyết học của Bệnh viện Thống Nhất. Tuổi trung vị tại thời điểm chẩn đoán là 68 tuổi [55,8 - 77 tuổi]. Đặc điểm huyết học ban đầu cho thấy tình trạng thiếu máu (Hb 9,3 ± 2,6 g/dL) và sự biến thiên lớn về số lượng bạch cầu (20,1 ± 42,4 K/uL) và tiểu cầu (197 ± 172,3 K/uL), phản ánh sự đa dạng của các bệnh lý. &nbsp;Kết quả nghiên cứu khẳng định giá trị của FCM trong chẩn đoán và phân loại nhiều bệnh lý: xác định dòng bạch cầu cấp (tủy/lympho B, T), phát hiện tế bào lympho đơn dòng trong u lympho và phân biệt tương bào lành tính/ác tính trong đa u tủy. So sánh với tủy đồ cho thấy độ phù hợp cao, đặc biệt trong các trường hợp khó. Tuy nhiên, FCM không thay thế hoàn toàn được tủy đồ trong đánh giá hình thái và cấu trúc mô. Từ đó, đưa ra kết luận FCM là công cụ bổ trợ mạnh mẽ, không thể thiếu trong chẩn đoán bệnh lý huyết học. Sự kết hợp giữa FCM và tủy đồ mang lại độ chính xác tối ưu, hỗ trợ hiệu quả cho việc chẩn đoán và quản lý bệnh nhân.</p> Nguyễn Quang Đẳng, Đào Thị Phương Anh, Nguyễn Thị Mỹ Linh Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/tcsuckhoevalaohoa/article/view/137997 Fri, 27 Feb 2026 00:00:00 +0700 KHẢO SÁT DẤU ẤN MIỄN DỊCH HLA-B27 BẰNG KỸ THUẬT FLOW CYTOMETRY TRONG CHẨN ĐOÁN BỆNH LÝ VIÊM CỘT SỐNG DÍNH KHỚP https://vjol.info.vn/tcsuckhoevalaohoa/article/view/137998 <p>Viêm cột sống dính khớp (VCSDK) là một bệnh lý viêm mạn tính có liên quan chặt chẽ đến yếu tố di truyền HLA-B27, trong đó xét nghiệm HLA-B27 đóng vai trò quan trọng trong hỗ trợ chẩn đoán, đặc biệt trong giai đoạn sớm và kỹ thuật flow cytometry hiện là một phương pháp mới với tiềm năng ứng dụng cao trong phát hiện HLA-B27. Nghiên cứu này nhằm xác định tỷ lệ HLA-B27 dương tính và âm tính ở bệnh nhân VCSDK và đánh giá mối liên quan giữa HLA-B27 với các đặc điểm sinh học của nhóm bệnh nhân. Nghiên cứu mô tả hồi cứu được thực hiện tại Bệnh viện Thống Nhất từ tháng 01/2025 đến 07/2025 trên bệnh nhân chẩn đoán VCSDK được xác định theo mã ICD M45. Xét nghiệm HLA-B27 được thực hiện bằng kỹ thuật flow cytometry, dữ liệu được xử lý thống kê mô tả và phân tích mối liên quan với phần mềm Excel 2021. Trong tổng số 248 người bệnh được chẩn đoán VCSDK dựa trên mã ICD M45, nữ giới chiếm ưu thế (tỷ lệ nam:nữ là 1:1,5). Độ tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 44,6 ± 14,9. Tỷ lệ HLA-B27 dương tính là 12% (30/248), thấp hơn đáng kể so với nhiều nghiên cứu trước. Bệnh nhân HLA-B27 dương tính có tuổi khởi phát bệnh trung bình thấp hơn so với nhóm âm tính (40,9 ± 15,4 so với 45,1 ± 14,8; p = 0,048). Không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về giới tính giữa hai nhóm (p &gt; 0,05), tuy nhiên nhóm âm tính có tỷ lệ nữ cao hơn. Từ đó, chúng tôi đưa ra kết luận, tỷ lệ HLA-B27 dương tính ở bệnh nhân VCSDK trong nghiên cứu này thấp hơn so với dữ liệu trong và ngoài nước, có thể phản ánh đặc điểm dân số và tiêu chí sàng lọc rộng. HLA-B27 dương tính có liên quan đến tuổi khởi phát bệnh trẻ hơn, gợi ý vai trò không chỉ trong chẩn đoán mà còn trong đặc điểm lâm sàng của bệnh. Kỹ thuật flow cytometry cho thấy hiệu quả trong khảo sát HLA-B27 và có tiềm năng ứng dụng rộng rãi trong lâm sàng</p> Nguyễn Quang Đẳng, Huỳnh Thị Thanh Thúy, Nguyễn Thị Mỹ Linh Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/tcsuckhoevalaohoa/article/view/137998 Fri, 27 Feb 2026 00:00:00 +0700 SỰ TƯƠNG HỢP GIỮA ĐỊNH LƯỢNG LDL-C TRỰC TIẾP VÀ ƯỚC TÍNH THEO PHƯƠNG TRÌNH MARTIN-HOPKINS CẢI TIẾN Ở NỒNG ĐỘ TRIGLYCERIDE CAO https://vjol.info.vn/tcsuckhoevalaohoa/article/view/137999 <p>Bệnh tim mạch hiện là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và LDL-C là yếu tố nguy cơ quan trọng. Tuy đo trực tiếp LDL-C cho kết quả chính xác nhưng vẫn còn tốn kém, trong khi phương trình Friedewald giảm độ chính xác khi ước tính LDL-C ở người bệnh có triglyceride (TG) cao thì phương trình Martin-Hopkins cải tiến (eMH) được đề xuất để khắc phục điều này. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 626 người bệnh tại Bệnh viện Thống Nhất với TG 400-800 mg/dL, LDL-C được xác định bằng phương pháp enzyme đồng nhất và ước tính bằng phương trình Friedewald, eMH. So sánh độ chính xác qua hệ số tương quan Pearson/Spearman, sai số trung bình tuyệt đối (MAE), sai số căn bậc hai trung bình (RMSE) và tỷ lệ tái phân nhóm phù hợp. Kết quả cho thấy phương trình eMH có tương quan cao hơn so với Friedewald (0,74 &gt; 0,70), MAE và RMSE thấp hơn (20,6 mg/dL và 27,8 mg/dL so với 42,3 mg/dL và 52,2 mg/dL), đồng thời tỷ lệ tái phân nhóm phù hợp cao hơn (39% vs 29%). Tóm lại, phương trình eMH có độ chính xác và tính tương hợp tốt hơn trong khoảng TG 400-800 mg/dL so với phương trình Friedewald. Tuy nhiên cần nghiên cứu trên mẫu đa trung tâm và so sánh với phương pháp tham chiếu định lượng β trước khi sử dụng rộng rãi.</p> Mai Phùng Huyền My, Thái Hữu Khoa, Cao Thị Vân Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/tcsuckhoevalaohoa/article/view/137999 Fri, 27 Feb 2026 00:00:00 +0700 ĐẶC ĐIỂM NGUYÊN NHÂN, TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG Ở BỆNH NHÂN THIẾU MÁU THIẾU SẮT NGƯỜI LỚN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỒNG THÁP https://vjol.info.vn/tcsuckhoevalaohoa/article/view/138001 <p>Thiếu máu thiếu sắt (TMTS) là vấn đề sức khỏe toàn cầu quan trọng. Các nghiên cứu gần đây ghi nhận 8 – 15% trường hợp TMTS có nguyên nhân từ ung thư đường tiêu hóa. Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, nguyên nhân TMTS và đánh giá mối liên quan giữa một số đặc điểm này ở người bệnh. Kết quả nghiên cứu trên 119 bệnh nhân ≥16 tuổi chẩn đoán TMTS từ tháng 6/2024 đến tháng 5/2025 ghi nhận tuổi trung vị là 60 ± 17,4; nữ chiếm 59,7%. Các triệu chứng thiếu máu thường gặp: hoa mắt, chóng mặt (96,6%), da xanh, niêm nhạt (82,4%). Đa số thiếu máu nặng (87,4%) đáp ứng tủy xương kém (RPI = 0,3 ± 0,1). Ferritin trung vị 10,3 ± 7,5 ng/mL, có mối tương quan chặt chẽ với hình thái hồng cầu (MCV, MCH, MCHC) và transferrin. Nguyên nhân chủ yếu là mất sắt mạn tính, trong đó 9,2% do u đường tiêu hóa (chủ yếu ở nam giới, 72,7%). Nghiên cứu cho thấy TMTS là tình trạng phổ biến, đặc biệt ở nữ giới và người lớn tuổi. Việc tầm soát nguyên nhân mất sắt, nhất là khối u đường tiêu hóa ở nam giới cao tuổi, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.</p> Trần Thanh Tòng, Phạm Quốc Duy, Dương Phước Bình, Võ Tấn Phát Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/tcsuckhoevalaohoa/article/view/138001 Fri, 27 Feb 2026 00:00:00 +0700 TÌNH HÌNH ĐỀ KHÁNG KHÁNG SINH CỦA MỘT SỐ VI KHUẨN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA CÁI NƯỚC NĂM 2023-2024 https://vjol.info.vn/tcsuckhoevalaohoa/article/view/138003 <div data-renderer="lm"> <p class="my-2 [&amp;+p]:mt-4 [&amp;_strong:has(+br)]:inline-block [&amp;_strong:has(+br)]:pb-2">Đề kháng kháng sinh là một thách thức lớn đối với y tế toàn cầu. Nghiên cứu này nhằm khảo sát tình hình nhiễm và sự đề kháng kháng sinh của các vi khuẩn gây bệnh tại Bệnh viện Đa khoa Cái Nước năm 2023–2024. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện tại Bệnh viện Đa khoa Cái Nước, trên các mẫu bệnh phẩm lâm sàng được định danh và làm kháng sinh đồ theo tiêu chuẩn CLSI 2023. Kết quả: Các vi khuẩn phân lập chủ yếu gồm Escherichia coli 9,9%, Klebsiella pneumoniae 8.1%, Staphylococcus epidermidis 13,5% và Staphylococcus aureus 46,8%. Tỷ lệ đề kháng cao được ghi nhận với nhóm beta-lactam và quinolon. Tỷ lệ trực khuẩn gram âm sinh ESBL chiếm 21,2%, MRSA chiếm 89,7%. Kết luận: Tình hình kháng kháng sinh tại bệnh viện đang ở mức cao, cần tăng cường giám sát và sử dụng kháng sinh hợp lý.</p> </div> Nguyễn Chí Nguyễn, Nguyễn Văn Tín, Nguyễn Văn Tín, Châu Quốc Lượng, Nguyễn Xuân Duyên, Phan Hoàng Đạt, Võ Thái Dương, Võ Thành Trí, Lê Trung Tín Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/tcsuckhoevalaohoa/article/view/138003 Fri, 27 Feb 2026 00:00:00 +0700 MÔ HÌNH BỆNH TẬT NỘI TRÚ VÀ TÌNH HÌNH KHÁM CHỮA BỆNH TẠI BỆNH VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀN PHÚ YÊN TRƯỚC, TRONG VÀ SAU ĐẠI DỊCH COVID-19 NĂM 2020 - 2023 https://vjol.info.vn/tcsuckhoevalaohoa/article/view/138008 <p>Đại dịch COVID-19 ảnh hưởng sâu rộng đến mọi mặt trong đời sống con người trên&nbsp;thế giới nói chung và tỉnh Phú Yên (nay là khu vực phía đông tỉnh Đắk Lắk) nói riêng. Nhiều&nbsp;nghiên cứu (NC) ghi nhận số lượt khám, nhập viện và dịch vụ y tế đều giảm rõ rệt trong giai&nbsp;đoạn này. Việc đánh giá sự thay đổi mô hình bệnh tật (MHBT) và hoạt động khám chữa bệnh&nbsp;(KCB) tại Bệnh viện Y học cổ truyền (YHCT) Phú Yên trong giai đoạn 2020-2023 là cần thiết để&nbsp;định hướng cải tiến chất lượng dịch vụ, tăng cường khả năng ứng phó với các tình huống y&nbsp;tế công cộng tương tự trong tương lai. Khảo sát tình hình biến động MHBT nội trú và mô tả&nbsp;tình hình KCB tại Bệnh viện (BV) YHCT Phú Yên từ năm 2020 đến 2023. Đối tượng NC là tất cả&nbsp;hồ sơ bệnh án điều trị nội trú tai BV YHCT Phú Yên từ năm 2020 đến 2023 có chẩn đoán bệnh&nbsp;chính bằng mã ICD10. Phương pháp NC mô tả cắt ngang, hồi cứu. Giai đoạn 2020–2023, bệnh&nbsp;cơ xương khớp và thần kinh chiếm chủ yếu. Năm 2021 ghi nhận thêm ca COVID-19, nhóm &lt;15&nbsp;tuổi tăng mắc bệnh lây nhiễm (94,6%). Nhân lực ổn định, giường bệnh tăng từ 2022. Giai đoạn&nbsp;dịch, lượt khám giảm, phục hồi rõ vào 2023. Công suất giường thấp nhất năm 2021 (69,7%),&nbsp;cao nhất 2023 (113,8%). MHBT và hoạt động KCB tại BV YHCT Phú Yên thay đổi do COVID-19,&nbsp;giảm mạnh năm 2021 và phục hồi từ 2022.</p> Trần Thị Hoàng Oanh, Trần Hữu Tuấn Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/tcsuckhoevalaohoa/article/view/138008 Fri, 27 Feb 2026 00:00:00 +0700 THỰC TRẠNG TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI BỆNH MẠN TÍNH ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC NĂM 2024-2025 https://vjol.info.vn/tcsuckhoevalaohoa/article/view/138010 <p>Mô tả thực trạng tuân thủ điều trị bệnh mạn tính (BMT) và phân tích một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị BMT của người bệnh điều trị ngoại trú tại thành phố Thủ Đức năm 2024-2025. Nghiên cứu cắt ngang, mô tả. Nghiên cứu ở 253 người bệnh (BN) Tăng huyết áp (THA), 150 BN Đái tháo đường (ĐTĐ), 130 BN bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) điều trị tại Bệnh viện Lê Văn Việt và Trung tâm Y tế thành phố Thủ Đức cơ sở 1,2,3 từ tháng 7/2024 - 02/2025. Độ tuổi trung bình là 65.7 ± 10.9; nam 52.2%, nữ 47.8%. Thời gian mắc bệnh 6.8±6.5 năm. THA, ĐTĐ phát hiện chủ yếu tình cờ, 74.6% COPD được phát hiện khi có triệu chứng. 10% người THA, 17.3% người ĐTĐ và 6.2% người COPD có ít nhất 1 bệnh đồng mắc. 67.7% người THA đạt HA &lt;140/90 mmHg. Chỉ số đường huyết 137.7 ± 50.4 mg/dl (96%). 24.6% người COPD giai đoạn GOLD 3,4 Tỷ lệ tuân thủ điều trị chung là 23.8% tốt, 48.6% trung bình và 27.6% kém. Tuân thủ điều trị tốt hơn ở các nhóm: sống cùng gia đình, phát hiện bệnh qua khám định kỳ, thời gian bệnh dưới 5 năm, không có bệnh đồng mắc (p &lt;0.05); có mối liên quan giữa tuân thủ điều trị và kết quả điều trị đạt mục tiêu, rõ ràng nhất ở người bệnh THA, 1 phần ở COPD và ĐTĐ. Tuân thủ điều trị giữ vai trò thiết yếu trong quản lý bệnh mạn tính.</p> Nguyễn Khoa Lý, Nguyễn Thị Bích Uyên, Trương Thị Vân Anh, Lâm Thanh Hương, Phạm Thị Liên Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/tcsuckhoevalaohoa/article/view/138010 Fri, 27 Feb 2026 00:00:00 +0700 BỆNH CƠ TIM DO TO ĐẦU CHI Ở NGƯỜI CAO TUỔI: BÁO CÁO CA LÂM SÀNG VÀ TỔNG QUAN CÁCH TIẾP CẬN CHẨN ĐOÁN – ĐIỀU TRỊ https://vjol.info.vn/tcsuckhoevalaohoa/article/view/138014 <p>Bệnh cơ tim do to đầu chi được xếp vào nhóm bệnh cơ tim do rối loạn nội tiết. Bệnh to đầu chi đặc trưng bởi tình trạng tăng tiết quá mức hormon tăng trưởng (Growth hormone – GH) và hormon trung gian của nó là yếu tố tăng trưởng giống insulin 1 (insulin-like growth factor 1 – IGF-1). Nguyên nhân bệnh to đầu chi trong đa số trường hợp là do u tuyến yên.&nbsp;Nồng độ GH và IGF-1 trong máu cao kéo dài gây tăng sinh tế bào cơ tim, ảnh hưởng sức co bóp của cơ tim và nhiều cơ chế gián tiếp khác dẫn tới bệnh cơ tim. Kiểu hình bệnh cơ tim do to đầu chi thường là bệnh cơ tim phì đại, nhưng nếu không được điều trị kiểm soát hormon, có thể chuyển sang kiểu hình bệnh cơ tim dãn với phân suất tống máu giảm. Trong bài báo này, chúng tôi mô tả một trường hợp lâm sàng bệnh nhân cao tuổi nhập viện vì khó thở. Sau khi kết hợp dữ liệu lâm sàng và cận lâm sàng, bệnh nhân được xác định mắc bệnh to đầu chi do u tuyến yên kèm theo suy tim với phân suất tống máu giảm. Bệnh nhân được điều trị lợi tiểu giảm sung huyết, và tối ưu hóa điều trị nội khoa suy tim theo hướng dẫn, cùng với phẫu thuật u tuyến yên khi suy tim ổn định. Tuy nhiên, bệnh nhân đã từ chối phẫu thuật u tuyến yên.</p> Trần Võ Trí Dũng, Tạ Hoàng Lưu, Nguyễn Quốc Phòng, Nguyễn Thị Kim Ngọc, Trần Trung Kiên, Nguyễn Thanh Vy, Nguyễn Thị Mai Hương, Nguyễn Thanh Huân Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/tcsuckhoevalaohoa/article/view/138014 Fri, 27 Feb 2026 00:00:00 +0700 BỆNH CƠ TIM DO NHIỄM ĐỘC GIÁP BIỂU HIỆN SUY TIM VỚI PHÂN SUẤT TỐNG MÁU SIÊU BÌNH THƯỜNG: BÁO CÁO CA BỆNH https://vjol.info.vn/tcsuckhoevalaohoa/article/view/138052 <p>Bệnh cơ tim do nhiễm độc giáp được xếp vào nhóm bệnh cơ tim do chuyển hoá, biểu hiện lâm sàng bằng tình trạng suy tim cung lượng cao với phân suất tống máu siêu bình thường. Gần đây, suy tim với phân suất tống máu siêu bình thường được xem như kiểu hình riêng biệt của suy tim với tiên lượng và đáp ứng điều trị kém hơn nhóm suy tim với phân suất tống máu bảo tồn. Trong bài báo này, chúng tôi mô tả một trường hợp lâm sàng nhập viện vì mệt mỏi, hồi hộp kèm tiêu chảy. Sau khi kết hợp dữ liệu lâm sàng và cận lâm sàng, bệnh nhân được xác định mắc hội chứng nhiễm độc giáp kèm theo suy tim với phân suất tống máu siêu bình thường. Bệnh nhân được điều trị bằng thuốc kháng giáp tổng hợp phối hợp với thuốc chẹn beta. Sau 7 ngày điều trị, bệnh nhân cải thiện đáng kể về triệu chứng lâm sàng và chức năng tim mạch trên siêu âm tim.</p> Tạ Hoàng Lưu, Tạ Thắng Nam, Trần Võ Trí Dũng, Nguyễn Quốc Phòng, Nguyễn Thị Kim Ngọc, Võ Thảo Uyên, Trần Hữu Chí, Nguyễn Thanh Vy, Nguyễn Thanh Huân Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/tcsuckhoevalaohoa/article/view/138052 Fri, 27 Feb 2026 00:00:00 +0700