Hiệu quả sử dụng cao su vụn trong bê tông nhựa chặt tái chế nóng
Từ khóa
Tóm tắt
Bài báo đánh giá hiệu quả sử dụng cao su vụn từ lốp xe phế thải đối với bê tông nhựa chặt tái chế nóng (BTNCTCN) 12,5 sử dụng 25% bê tông nhựa thu hồi (RAP). Hai hỗn hợp được so sánh gồm hỗn hợp không bổ sung cao su vụn (R0) và hỗn hợp bổ sung 1,0% cao su vụn theo khối lượng hỗn hợp (R1). Cốt liệu và bột khoáng được lấy từ trạm trộn bê tông nhựa của Công ty Cổ phần Công trình giao thông Sài Gòn, cốt liệu có nguồn gốc từ mỏ đá Tân Cang, Đồng Nai; nhựa đường mới là nhựa đường 60/70 của Công ty TNHH Nhựa đường Petrolimex; cao su vụn được cung cấp bởi Công ty Cổ phần Phát triển công nghệ Cao Su, cỡ hạt 0,4 mm. Trên cơ sở cấp phối BTNCTCN 12,5 sử dụng 25% RAP và hàm lượng nhựa tối ưu 4,8%, hai hỗn hợp R0 và R1 được đánh giá thông qua độ ổn định Marshall, độ dẻo Marshall, cường độ kéo khi ép chẻ của mẫu khô và mẫu ngâm, tỷ số cường độ kéo gián tiếp TSR, mô-đun đàn hồi ở 15oC, 30oC và 60oC; đồng thời xem xét hiệu quả áp dụng thông qua kiểm toán kết cấu áo đường và giá thành rải thảm. Kết quả cho thấy hỗn hợp R1 có độ ổn định Marshall, độ dẻo Marshall, cường độ ép chẻ khô cùng ướt và TSR cao hơn hỗn hợp R0. Mô-đun đàn hồi của R1 thấp hơn R0 ở cả ba mức nhiệt độ thí nghiệm, cho thấy cao su vụn góp phần làm tăng biến dạng đàn hồi phục hồi và giảm độ cứng của BTNCTCN có RAP; đồng thời R1 vẫn cho kết quả độ ổn định Marshall, độ dẻo Marshall, cường độ ép chẻ và TSR cao hơn R0 trong phạm vi thí nghiệm. Kết quả kiểm toán kết cấu cho thấy cả hai phương án đều thỏa mãn các điều kiện tính toán, trong khi phương án có cao su vụn có giá thành rải thảm cao hơn do phát sinh chi phí vật liệu cao su. Vì vậy, việc bổ sung 1,0% cao su vụn cho BTNCTCN 12,5 sử dụng 25% RAP có triển vọng về mặt kỹ thuật, nhưng cần tiếp tục xem xét hiệu quả kinh tế theo điều kiện áp dụng thực tế.