https://vjol.info.vn/tdm/issue/feedTạp chí Khoa học - Đại học Thủ Dầu Một2026-02-27T19:05:54+07:00Phạm Văn Thịnhtapchi@tdmu.edu.vnOpen Journal Systems<p><strong>Tạp chí của Trường Đại học Thủ Dầu Một</strong></p>https://vjol.info.vn/tdm/article/view/132673CÀ PHÊ SÀI GÒN TRONG ĐỜI SỐNG SỐ: THỰC HÀNH KHÔNG GIAN VÀ TRẢI NGHIỆM CỦA NGƯỜI TRẺ ĐÔ THỊ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH2026-02-27T19:05:54+07:00Phan Thị Hồng Xuânna.vu100394@gmail.comNguyễn Triệu Vyna.vu100394@gmail.comNguyễn Anh Vũna.vu100394@gmail.com<p>Nghiên cứu này phân tích vai trò của quán cà phê như một không gian văn hóa - xã hội trọng yếu đối với giới trẻ tại TP.HCM trong bối cảnh đô thị hóa và số hóa sâu rộng. Thông qua phương pháp nghiên cứu định tính (phỏng vấn sâu và quan sát thực địa), tác giả tiếp cận việc đi cà phê như một thực hành không gian thường nhật, nơi các trải nghiệm cảm xúc và chiến lược kiến tạo bản sắc được kiến tạo giữa môi trường vật lý và không gian số. Kết quả cho thấy quán cà phê không chỉ đơn thuần là nơi tiêu dùng hay làm việc, mà còn là một không gian "ở lại", giúp cá nhân duy trì sự hiện diện xã hội tối thiểu. Các thực hành kỹ thuật số như chụp ảnh, đăng tải hoặc chủ động giữ riêng tư trên mạng xã hội được diễn giải là những "nghi thức xã hội kỹ thuật số". Qua đó, người trẻ vừa khẳng định sự hiện diện trong không gian số, vừa khéo léo thiết lập ranh giới giữa trình diễn bản thân và đời sống riêng tư. Đồng thời, quán cà phê vận hành như một không gian trung gian, nơi cảm giác thuộc về và ký ức đô thị được tích lũy thông qua các thực hành lặp lại. Từ góc nhìn nhân văn kỹ thuật số, bài viết lập luận rằng đời sống số là một không gian nhân văn được hình thành từ những trải nghiệm cụ thể thay vì một lĩnh vực công nghệ tách rời. Nghiên cứu góp phần làm rõ cách các thực hành đời thường kiến tạo nên đời sống đô thị lai ghép, đồng thời mở rộng thảo luận về vai trò của không gian bán công cộng trong việc định hình bản sắc giới trẻ đương đại.</p>2026-02-27T18:28:41+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học - Đại học Thủ Dầu Mộthttps://vjol.info.vn/tdm/article/view/132674NGHỆ THUẬT HÁT BỘI TẠI DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ: TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ KIẾN TẠO GIÁ TRỊ2026-02-27T18:40:04+07:00Nguyễn Thị Thanh Xuyênxuyenthanh27@gmail.com<p><em>Nghệ thuật hát bội ở khu vực duyên hải Nam Trung Bộ đang có những biến đổi đáng kể về trình diễn và hệ giá trị. Trên cơ sở tiếp cận nghệ thuật như một hệ thống văn hóa và phương pháp điền dã dân tộc học thông qua quan sát tham gia và phỏng vấn sâu tại một số địa phương thuộc duyên hải Nam Trung Bộ vào năm 2025, nghiên cứu này nhận diện và phân tích giá trị cốt lõi của nghệ thuật hát bội. Từ đó làm rõ vai trò của loại hình nghệ thuật này trong định hình ý nghĩa văn hóa và trải nghiệm của khán giả. Hát bội góp phần kiến tạo ba nhóm giá trị nổi bật, bao gồm giá trị định hình bản sắc văn hóa, giá trị thẩm mĩ và tính chất đặc sắc của nghệ thuật biểu diễn, cùng với giá trị giáo dục đạo đức. Bên cạnh đó, bài viết chỉ ra sự biến đổi của giá trị thẩm mĩ, giá trị kinh tế trong bối cảnh thị trường, cũng như sự điều chỉnh của giá trị đạo đức gắn với giáo dục học đường. Bài viết nhấn mạnh rằng các giải pháp bảo tồn và phát huy nghệ thuật hát bội cần dựa trên việc nhận diện đầy đủ giá trị văn hóa của loại hình nghệ thuật này, thay vì chỉ tập trung vào khía cạnh trình diễn hay hình thức biểu hiện.</em></p>2026-02-27T18:31:47+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học - Đại học Thủ Dầu Mộthttps://vjol.info.vn/tdm/article/view/132675SÁNG KIẾN “VÀNH ĐAI VÀ CON ĐƯỜNG”: ĐẠI CHIẾN LƯỢC CỦA TRUNG QUỐC2026-02-27T18:40:08+07:00Nguyễn Ngọc Đôngngocdong382@gmail.com<p><em>Sáng kiến “Vành đai và Con đường” (BRI) có thể được tiếp cận như một khuôn khổ chiến lược dài hạn của Trung Quốc, được triển khai theo phương thức đặc thù khác với mô hình đại chiến lược trong tư duy phương Tây vốn thường được thể hiện bằng các học thuyết công bố rõ ràng. Thay vì định hình bằng một văn kiện chiến lược thống nhất, tư duy chiến lược của Trung Quốc chủ yếu được nhận diện thông qua thực tiễn chính sách và các mẫu hình hành vi tương đối ổn định theo thời gian. Từ góc nhìn này, BRI thể hiện ba đặc trưng thường gắn với khái niệm “đại chiến lược” theo nghĩa hành vi: (i) gắn với tầm nhìn chính trị dài hạn về phục hưng dân tộc, trong đó mốc 2049 thuộc về mục tiêu quốc gia chung chứ không phải thời hạn hoàn tất riêng của BRI; (ii) khả năng huy động và phối hợp đồng bộ các nguồn lực quốc gia trên các lĩnh vực kinh tế, ngoại giao và địa chính trị; và (iii) sự hình thành một mô hình hành vi tương đối nhất quán trong không gian Á – Âu, đặc biệt tại khu vực Rimland.. Thông qua phân tích trường hợp BRI, bài viết lập luận rằng Trung Quốc đang thiết lập một mô hình quan hệ quốc tế mới, trong đó kết nối hạ tầng - thay vì sức mạnh quân sự - trở thành công cụ cấu trúc quyền lực. Từ đó, nghiên cứu góp phần bổ sung cách tiếp cận lý luận cho rằng “Vành đai và Con đường” không thể được hiểu như một sáng kiến kinh tế thuần túy, mà cần được xem là phương tiện chiến lược then chốt để Trung Quốc định vị lại vai trò của mình trong trật tự quốc tế đang trong </em><em>quá trình chuyển đổi.</em></p>2026-02-27T18:32:55+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học - Đại học Thủ Dầu Mộthttps://vjol.info.vn/tdm/article/view/132676NHỮNG BIẾN ĐỔI VỀ CẤU TRÚC “ĐIỂN MẪU” CỦA HÌNH TƯỢNG NGUYỄN HUỆ TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM SAU 19862026-02-27T18:40:13+07:00Trần Thị Nhậtttnhat@sgu.edu.vn<p><em>Bài viết tập trung làm rõ những biến đổi trong cấu trúc điển mẫu của hình tượng người anh hùng Nguyễn Huệ dưới tác động của quá trình đổi mới tư duy nghệ thuật. Từ việc khảo sát các phương thức kiến tạo hình tượng trên các bình diện ngoại hình, hành động, ứng xử và đối thoại, bài viết chỉ ra rằng, nhiều tác phẩm đã không còn tuyệt đối hóa các dấu hiệu điển mẫu truyền thống mà từng bước tái cấu trúc hình tượng nhân vật bằng việc bổ sung các yếu tố đời thường, cảm xúc cá nhân và những giá trị nhân bản. Quá trình biến đổi này không phá vỡ nền tảng điển mẫu vốn có mà làm cho cấu trúc của nó trở nên linh hoạt, có tính “mở” và giàu khả năng đối thoại hơn. Qua đó, nhân vật Nguyễn Huệ vừa tiếp tục được khẳng định như một biểu tượng anh hùng lịch sử, vừa hiện lên như một hình tượng nghệ thuật đa diện, phản ánh sự chuyển dịch quan niệm về con người trong văn học Việt Nam sau 1986.</em></p>2026-02-27T18:33:56+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học - Đại học Thủ Dầu Mộthttps://vjol.info.vn/tdm/article/view/132677XÂY DỰNG KHO DỮ LIỆU TÍCH HỢP TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT2026-02-27T18:40:16+07:00Trịnh Trọng Thànhkhietbt@tdmu.edu.vnBùi Thanh Khiếtkhietbt@tdmu.edu.vn<p class="Vnbnnidung0" style="margin-bottom: 4.0pt; text-align: justify; text-indent: 27.0pt; line-height: 97%;"><em><span style="font-size: 12.0pt; line-height: 97%;">Trong bối cảnh tự chủ đại học và chuyển đổi số, việc ra quyết định dựa trên dữ liệu (Data-driven decision making) trở thành yêu cầu cấp thiết. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất tại các trường đại học hiện nay là tình trạng phân mảnh dữ liệu, thiếu tính liên thông giữa các phòng ban chức năng. Bài báo này trình bày quy trình xây dựng và triển khai hệ thống Kho dữ liệu (Data Warehouse - DWH) tích hợp tại Trường Đại học Thủ Dầu Một. Nghiên cứu đề xuất kiến trúc hệ thống hiện đại dựa trên mô hình Lakehouse, kết hợp sức mạnh lưu trữ của Data Lake và khả năng quản lý cấu trúc của DWH, sử dụng công nghệ Apache Doris cho xử lý dữ liệu lớn và Apache Superset cho trực quan hóa. Kết quả thực nghiệm cho thấy hệ thống đã tích hợp thành công dữ liệu từ các phân hệ đào tạo, tuyển sinh và nghiên cứu khoa học, cung cấp các dashboard phân tích đa chiều thời gian thực. Hệ thống giúp lãnh đạo nhà trường có cái nhìn toàn cảnh, từ đó nâng cao hiệu quả quản trị và hoạch định chiến lược.</span></em></p>2026-02-27T18:34:54+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học - Đại học Thủ Dầu Mộthttps://vjol.info.vn/tdm/article/view/132678TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ HOẠT TÍNH SINH HỌC CỦA QUERCETIN2026-02-27T18:40:20+07:00Bùi Phạm Thanh Hươnghuong.buiphamthanh@hcmuaf.edu.vnNguyễn Hoàng Thảo Lyhuong.buiphamthanh@hcmuaf.edu.vn<p><em>Quercetin là một flavonoid tự nhiên phân bố rộng rãi trong nhiều loài thực vật và được ghi nhận với nhiều hoạt tính sinh học quan trọng. Bài viết này tổng hợp và phân tích các nghiên cứu đã công bố về hoạt tính sinh học của quercetin, tập trung vào các tác dụng chống oxy hóa, kháng viêm, kháng khuẩn, chống ung thư và bảo vệ tim mạch. Các bằng chứng thực nghiệm cho thấy quercetin có khả năng điều hòa stress oxy hóa, ức chế các phản ứng viêm thông qua việc kiểm soát các cytokine và enzyme liên quan, đồng thời góp phần bảo vệ tế bào trước tổn thương do các gốc tự do. Bên cạnh đó, bài viết cũng khái quát các phương pháp trích ly quercetin phổ biến như chiết xuất bằng dung môi, siêu âm và công nghệ dung môi xanh, nhằm nâng cao hiệu suất và độ tinh khiết của hợp chất. Mặc dù quercetin được đánh giá có tiềm năng ứng dụng trong hỗ trợ điều trị các bệnh lý mạn tính như tiểu đường, tim mạch và ung thư, những hạn chế về sinh khả dụng và độ ổn định vẫn đặt ra yêu cầu tiếp tục nghiên cứu nhằm tối ưu hóa khả năng ứng dụng trong thực tiễn.</em></p>2026-02-27T18:35:46+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học - Đại học Thủ Dầu Mộthttps://vjol.info.vn/tdm/article/view/132679NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM TRÀ TÚI LỌC LÁ CÂY ĐU ĐỦ (Carica papaya L.)2026-02-27T18:40:24+07:00Trần Thị Maimaitt.ptud@tdmu.edu.vnGiang Quế Anhmaitt.ptud@tdmu.edu.vn<p><em>Lá cây đu đủ (Carica papaya L.) là nguồn nguyên liệu giàu polyphenol có hoạt tính sinh học và được sử dụng như một loại thảo dược trong y học cổ truyền nhằm hỗ trợ các vấn đề về sức khỏe. Tuy nhiên, việc ứng dụng lá đu đủ trong các sản phẩm đồ uống tiện lợi còn hạn chế. Nghiên cứu này nhằm đánh giá ảnh hưởng của các thông số công nghệ như nhiệt độ và thời gian sấy, công thức và tỷ lệ phối cỏ ngọt, hàm lượng nước và thời gian pha đến chất lượng sản phẩm trà túi lọc. Kết quả cho thấy, nhiệt độ sấy lá đu đủ thích hợp là 60 độ C trong 6 giờ, độ ẩm nguyên liệu sau sấy đạt 7,03%, hàm lượng polyphenol tổng đạt 19,50 mg GAE/g chất khô và khả năng kháng oxy hóa theo DPPH đạt 35,92 µmol TE/g chất khô. Tỷ lệ phối trộn giữa cỏ ngọt và lá đu đủ được xác định là 3:1 cho điểm cảm quan cao nhất. Thử nghiệm pha chế cho thấy tỷ lệ nguyên liệu/nước pha là 3g trà túi lọc trên </em><em>150ml nước nóng, trong thời gian 5 phút mang lại giá trị cao về cảm quan, đồng thời duy trì hàm lượng polyphenol tổng và khả năng kháng oxy hóa. Nghiên cứu này góp phần xây dựng quy trình chế biến trà túi lọc từ lá đu đủ đạt chất lượng ổn định, tiện dụng góp phần đa dạng hóa các sản phẩm trà thảo mộc.</em></p>2026-02-27T18:36:46+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học - Đại học Thủ Dầu Mộthttps://vjol.info.vn/tdm/article/view/132680ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG QUY HOẠCH MỞ RỘNG QUỸ ĐẤT GIAO THÔNG ĐẾN SINH KẾ NGƯỜI DÂN TRÊN TUYẾN ĐT 741, XÃ ĐỒNG PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI2026-02-27T18:40:27+07:00Lê Thị Lan Trâmtramltl@tdmu.edu.vnNguyễn Tuấn Kiệttramltl@tdmu.edu.vn<p><em>Quy hoạch mở rộng quỹ đất giao thông là động lực then chốt thúc đẩy liên kết vùng, nhưng đồng thời tạo ra những biến động sâu sắc đến sinh kế của cộng đồng dân cư. Nghiên cứu tập trung đánh giá tác động của việc quy hoạch, mở rộng dự án tuyến đường giao thông đối với các hộ gia đình thông qua khung sinh kế bền vững (Sustainable Livelihood Framework – DFID). Kết quả khảo sát cho thấy, nhờ chính sách bồi thường sát thực tế, nguồn vốn tài chính ngắn hạn của người dân gia tăng đáng kể, 41,5% số hộ có đời sống được cải thiện nhờ chuyển dịch sang thương mại – dịch vụ, 58,5% duy trì ổn định cũng như thúc đẩy quá trình chuyển dịch sinh kế theo hướng giảm dần phụ thuộc vào nông nghiệp, gia tăng các hoạt động thương mại – dịch vụ. Bài viết đề xuất ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) và thuật toán nội suy trọng số nghịch đảo (IDW) để xây dựng bản đồ giá đất, đảm bảo tính minh bạch và đề xuất hệ số K điều chỉnh phù hợp (1,41 - 1,50) nhằm bảo đảm an sinh xã hội, hạn chế xung đột lợi ích trong quá trình triển khai quy hoạch mở rộng quỹ đất giao thông</em></p>2026-02-27T18:37:48+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học - Đại học Thủ Dầu Mộthttps://vjol.info.vn/tdm/article/view/132681MỤC LỤC2026-02-27T19:04:44+07:00Ban Biên tậptapchi@tdmu.edu.vn<p><strong>Xã hội nhân văn</strong></p> <p><strong>Khoa học máy tính</strong></p> <p><strong>Khoa học tự nhiên, môi trường</strong></p>2026-02-27T18:38:50+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học - Đại học Thủ Dầu Một