https://vjol.info.vn/vea/issue/feedTạp chí Môi trường 2026-03-20T10:10:06+07:00Phạm Đình Tuyênphamtuyenpv@yahoo.comOpen Journal Systems<p><strong>Tạp chí của Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và Môi trường</strong></p>https://vjol.info.vn/vea/article/view/133528Mối quan hệ giữa phát triển nông nghiệp bền vững, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu từ thực tiễn của Việt Nam2026-03-10T05:20:14+07:00Trần Thanh Namtapchimoitruong@isponre.gov.vn<p> Môi trường là tổng hòa các yếu tố tự nhiên và nhân tạo bao quanh sự sống của con người, có quan hệ mật thiết và ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống, phát triển của xã hội. Môi trường không chỉ có vai trò quan trọng trong cung cấp tài nguyên và lương thực, thực phẩm để đảm bảo sự sinh tồn của con người, mà còn tiếp nhận xử lý chất thải do hoạt động của con người tạo ra và điều hòa khí hậu, bảo vệ con người khỏi thiên tai, dịch bệnh. Tuy nhiên, các hoạt động của con người trong sinh tồn và phát triển cũng tác động ảnh hưởng đến môi trường sống, nhất là đốt nhiên liệu hóa thạch cho hoạt động năng lượng, công nghiệp, giao thông và chất thải của hoạt động nông nghiệp góp phần làm cho nhiệt độ trái đất nóng lên, tạo ra những hiện tượng thời tiết cực đoan như bão, lũ lụt, hạn hán, nước biển dâng, đã tác động ảnh hưởng đến suy thoái hệ sinh thái và môi trường sống của con người. Chính vì vậy, bảo vệ môi trường (BVMT), thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH) và phát triển nông nghiệp bền vững luôn có mối quan hệ tương hỗ với nhau, vừa là mục tiêu, vừa là nền tảng để đất nước phát triển bền vững.</p>2026-01-31T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/vea/article/view/133529Quản lý tài nguyên thiên nhiên theo tiếp cận tổng hợp, cảnh quan và dựa vào hệ sinh thái2026-03-10T05:22:13+07:00Nguyễn Đình Thọtapchimoitruong@isponre.gov.vn<p> Quản lý tài nguyên thiên nhiên theo tiếp cận tổng hợp, cảnh quan và dựa vào hệ sinh thái (HST) phản ánh bước phát triển quan trọng trong tư duy quản trị tài nguyên tại Việt Nam, gắn liền với tiến trình đổi mới nhận thức của Đảng qua các kỳ Đại hội. Từ mô hình khai thác đơn ngành phục vụ tăng trưởng nhanh, quản lý tài nguyên từng bước chuyển sang gắn kết với bảo vệ môi trường, thích ứng biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. Văn kiện Đại hội XIV đánh dấu bước đột phá khi đặt bảo vệ môi trường, quản lý tài nguyên ngang tầm với phát triển kinh tế - xã hội (KT - XH), coi tài nguyên là vốn tự nhiên cần được bảo toàn và gia tăng giá trị. Tiếp cận tổng hợp nhấn mạnh quản lý liên ngành, liên vùng theo không gian sinh thái. Tiếp cận cảnh quan tạo cơ sở dung hòa các mục tiêu sử dụng đất cạnh tranh. Quản lý dựa vào HST coi duy trì chức năng, khả năng phục hồi HST là nền tảng bảo đảm an ninh sinh thái và phát triển dài hạn.</p>2026-01-31T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/vea/article/view/133530Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo: Dấu ấn thập kỷ và yêu cầu đổi mới hướng tới “kỷ nguyên đại dương”2026-03-10T05:24:40+07:00Nguyễn Đức Toàntapchimoitruong@isponre.gov.vnTrần Tuấn Sơntapchimoitruong@isponre.gov.vn<p> Bài viết đánh giá những thành tựu, hạn chế và đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung toàn diện Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (2015) nhằm kiến tạo hành lang pháp lý thông thoáng, đưa Việt Nam thực sự trở thành quốc gia mạnh từ biển, giàu từ biển trong kỷ nguyên mới.</p>2026-01-31T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/vea/article/view/133531Thí điểm phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính: “Chìa khóa” mở cửa thị trường các-bon Việt Nam2026-03-10T05:27:43+07:00Lương Quang Huytapchimoitruong@isponre.gov.vn<p> Trong thế kỷ 21, biến đổi khí hậu (BĐKH) và ô nhiễm môi trường đã trở thành những thách thức mang tính sống còn mà nhân loại phải đối mặt, trong đó nguyên nhân cốt lõi xuất phát từ sự gia tăng không ngừng của lượng phát thải khí nhà kính (KNK) do các hoạt động kinh tế - xã hội của con người. Để ứng phó hiệu quả với tình trạng này, nhiều quốc gia trên thế giới đã thúc đẩy việc áp dụng chính sách hạn ngạch phát thải KNK, coi đây là một công cụ quản trị chiến lược nhằm kiểm soát chặt chẽ và lộ trình hóa việc giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường toàn cầu.</p>2026-01-31T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/vea/article/view/133532Khung thí điểm xây dựng xã nông thôn mới hiện đại giai đoạn 2026 - 2030: Bàn về nội hàm và định hướng tiêu chí2026-03-10T05:31:59+07:00Nguyễn Ngọc Luântapchimoitruong@isponre.gov.vnTrần Thị Châu Loantapchimoitruong@isponre.gov.vn<p> Cách tiếp cận theo “khung thí điểm” giúp tăng tính linh hoạt và trao quyền chủ động cho địa phương trong việc thiết kế tiêu chí xã NTM hiện đại. Tuy nhiên, điều này cũng đặt ra một thách thức không nhỏ: nếu việc cụ thể hóa tiêu chí chỉ dừng lại ở mức “chuyển hóa” các yêu cầu của Khung thí điểm thành danh mục chỉ tiêu định lượng, thiếu luận giải rõ về nội hàm và mức độ “hiện đại”, thì rất dễ dẫn tới sự chênh lệch đáng kể giữa các địa phương trong cách hiểu và cách áp dụng.</p>2026-01-31T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/vea/article/view/133534Báo cáo triển vọng môi trường toàn cầu lần thứ 7 (GEO-7): Các lộ trình chuyển đổi hệ thống hướng tới phát triển bền vững và hàm ý cho Việt Nam2026-03-10T05:34:52+07:00Nguyễn Trung Thắngtapchimoitruong@isponre.gov.vn<p> Báo cáo Triển vọng môi trường toàn cầu (Global Environment Outlook - GEO) là kết quả nghiên cứu của Chương trình môi trường Liên hợp quốc (UNEP) về hiện trạng, xu hướng môi trường trên toàn thế giới và đề xuất các chiến lược để ứng phó, được xuất bản từ năm 1997. Báo cáo GEO-7 được chính thức công bố vào tháng 12/2025, cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách những bằng chứng khoa học mới nhất để giải quyết các thách thức và khủng hoảng môi trường. Bài viết này giới thiệu các nội dung chính của Báo cáo GEO-7, từ đó phân tích một số hàm ý chính sách cho Việt Nam.</p>2026-01-31T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/vea/article/view/133535Từ chiến lược quốc gia đến tầm nhìn toàn cầu: Việt Nam kiến tạo tương lai đại dương với Hiệp định BBNJ2026-03-10T05:37:56+07:00Lưu Anh Đứctapchimoitruong@isponre.gov.vnNguyễn Gia Thọtapchimoitruong@isponre.gov.vn<p> Hiệp định về Bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học biển tại các vùng nằm ngoài quyền tài phán quốc gia (BBNJ) không chỉ là một văn kiện pháp lý bổ sung cho UNCLOS 1982, mà còn là một "đòn bẩy chiến lược" để Việt Nam định vị lại vai trò của mình trong kỷ nguyên đại dương. Bài viết phân tích sự tương thích chiến lược giữa BBNJ và "bộ ba" Nghị quyết then chốt: Số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, số 57-NQ/TW về Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới, chứng minh rằng việc phê chuẩn sớm Hiệp định (tháng 6/2025) là bước đi tiên quyết để Việt Nam chuyển dịch từ mô hình kinh tế khai thác tài nguyên sang kinh tế dựa trên tri thức và công nghệ xanh. Từ đó, bài viết đề xuất lộ trình hành động nhằm chuyển hóa các thách thức pháp lý và kỹ thuật thành động lực phát triển quốc gia, phù hợp với xu thế quản trị đại dương hiện đại.</p>2026-01-31T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/vea/article/view/133885Nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát thải khí nhà kính tại Việt Nam trong giai đoạn 1990 - 20242026-03-10T09:41:06+07:00Trần Thị Thu Hươngtapchimoitruong@isponre.gov.vnPhùng Thị Thu Trang, Chu Thị Thanh Hương, Nguyễn Thị Phương Chi, Phạm Hoàng Thảo Lytapchimoitruong@isponre.gov.vn<p> Nghiên cứu này phân tích mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát thải khí nhà kính (KNK) tại Việt Nam, đồng thời xác định các yếu tố kinh tế vĩ mô tác động đến ô nhiễm môi trường trong bối cảnh thực thi cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian giai đoạn 1990 - 2024 từ dữ liệu “Chỉ số phát triển thế giới_World Development Indicators”, áp dụng các mô hình kinh tế lượng gồm Vector Tự hồi quy (VAR), Tự hồi quy Phân phối Trễ (ARDL) và Tự hồi quy Ngưỡng (TAR) để đánh giá tác động ngắn hạn, dài hạn và xác định điểm uốn của Đường cong Môi trường Kuznets (EKC). Kết quả cho thấy, tăng trưởng GDP, FDI, công nghiệp hóa và tỷ giá hối đoái đều có tác động làm gia tăng phát thải CO₂ bình quân đầu người trong cả ngắn hạn và dài hạn. Hệ số dài hạn của GDP đạt 0,72, khẳng định mối liên hệ chặt chẽ giữa tăng trưởng và phát thải carbon, trong khi hệ số hiệu chỉnh sai số (-0,184) cho thấy sự tồn tại của mối quan hệ cân bằng dài hạn. Dự báo đến năm 2050, lượng phát thải CO₂ bình quân đầu người có thể tăng gấp năm lần nếu không có biện pháp can thiệp. Mô hình TAR xác định ngưỡng thu nhập mà tại đó phát thải đảo chiều ở mức 34.500 USD (giá 2015), cao hơn đáng kể so với mức hiện tại của Việt Nam. Các kết quả của nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm quan trọng phục vụ hoạch định chính sách hướng tới phát triển bền vững và thực hiện mục tiêu Net Zero.</p>2026-01-31T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/vea/article/view/133890Phân loại rác tại nguồn ở Thành phố Huế giai đoạn 2022 - 2025: Bài học kinh nghiệm và khuyến nghị2026-03-10T09:50:02+07:00Hoàng Ngọc Tường Vântapchimoitruong@isponre.gov.vnTrần Ngọc Tuấn, Trần Ngọc Khánh Ni, Ngô Hữu Bình, Hoàng Công Tíntapchimoitruong@isponre.gov.vn<p> Phân loại chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) tại nguồn là nội dung trọng tâm của Luật Bảo vệ môi trường (BVMT) năm 2020 và là nền tảng thúc đẩy kinh tế tuần hoàn (KTTH). Nghiên cứu này tập trung phân tích quy trình thực hiện và đánh giá hiệu quả chương trình phân loại rác tại nguồn (PLRTN) tại TP. Huế giai đoạn 2022-2025, trong bối cảnh có sự tham gia phối hợp của các bên giữa chính quyền địa phương, đơn vị thu gom và các dự án hỗ trợ kỹ thuật quốc tế. Thông qua phương pháp phân tích nội dung chính sách kết hợp nghiên cứu trường hợp dựa trên dữ liệu thứ cấp, bài viết đánh giá các kết quả đạt được trên phương diện kỹ thuật, hành vi và thể chế. Kết quả cho thấy, chương trình đã mở rộng từ các điểm thí điểm ra toàn TP., với 76,9% lượng rác được kiểm toán và phân loại đúng. Trong các nhóm rác, thủy tinh được phân loại chính xác nhất; rác tái chế được phân loại nhiều hơn theo thời gian; trong khi rác nguy hại hộ gia đình là nhóm khó phân loại đúng nhất. Mức độ tham gia cộng đồng tăng lên, với khoảng hai phần ba hộ gia đình thực hiện phân loại. Từ các kết quả này, nghiên cứu nhận diện thách thức, rút ra bài học và đề xuất khuyến nghị cho giai đoạn tiếp theo.</p>2026-01-31T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/vea/article/view/133894Đánh giá tiêu thụ và thất thoát năng lượng trong sản xuất chất tẩy rửa theo định hướng sản xuất sạch hơn: Nghiên cứu trường hợp tại Việt Nam2026-03-10T09:52:48+07:00Bùi Phương Thúytapchimoitruong@isponre.gov.vnVũ Quốc Cường, Nguyễn Minh Hiếu, Nguyễn Thị Khánh Linh, Nguyễn Đào Việt Nga, Nguyễn Lê Phương Thảotapchimoitruong@isponre.gov.vn<p> Chi phí năng lượng gia tăng và yêu cầu giảm phát thải đang tạo áp lực lớn đối với các doanh nghiệp sản xuất chất tẩy rửa. Nghiên cứu này đánh giá hiện trạng tiêu thụ và thất thoát năng lượng theo định hướng sản xuất sạch hơn (SXSH) thông qua nghiên cứu trường hợp tại một doanh nghiệp sản xuất chất tẩy rửa ở Việt Nam, dựa trên phân tích đường cơ sở năng lượng, cường độ tiêu thụ theo đơn vị sản phẩm và chi phí thất thoát. Kết quả cho thấy, tổng mức tiêu thụ đạt 600.000 kWh điện/năm và 9,6 tấn khí gas/năm, với tổng chi phí năng lượng và tài nguyên liên quan khoảng 2,18 tỷ đồng/năm, trong đó điện và khí gas chiếm khoảng 96,9% tổng chi phí. Với sản lượng trung bình 1.133 tấn/năm, cường độ tiêu thụ đạt 529,57 kWh/tấn (điện) và 8,47 kg/tấn (khí gas). Tiêu thụ năng lượng tập trung chủ yếu tại pha chế-gia nhiệt và chiết rót-đóng gói, là các điểm nóng ưu tiên kiểm soát theo SXSH. Chi phí thất thoát năng lượng ước tính khoảng 196,35 triệu đồng/năm (gần 9% tổng chi phí năng lượng) cho thấy, tiềm năng tiết kiệm năng lượng đáng kể và cung cấp cơ sở định lượng để ưu tiên các giải pháp quản lý - kỹ thuật theo định hướng sản xuất sạch hơn. Nghiên cứu tập trung lượng hóa hiện trạng và tiềm năng tiết kiệm theo tiếp cận SXSH, chưa triển khai đo lường trước, sau của các giải pháp can thiệp.</p>2026-01-31T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/vea/article/view/133896Đánh giá chất lượng đất dưới tán rừng trồng thông nhựa (pinus merkusii) ở vùng Bắc Trung bộ2026-03-10T09:55:27+07:00Đặng Thịnh Triềutapchimoitruong@isponre.gov.vnTrần Lâm Đồng, Phan Minh Quang, Nguyễn Thị Thùy Dương, Mai Thị Linhtapchimoitruong@isponre.gov.vn<p><em> Chất lượng đất dưới tán rừng trồng Thông nhựa (Pinus merkusii) tại các tỉnh vùng Bắc Trung bộ được đánh giá thông qua chỉ số chất lượng đất (SQI). SQI được xây dựng từ các chỉ tiêu vật lý, hóa học và sinh học đất, gồm dung trọng, thành phần cấp hạt, pH<sub>KCl</sub>, các bon hữu cơ (OC), đạm tổng số (Nts), P</em><em>₂</em><em>O</em><em>₅</em><em> và K</em><em>₂</em><em>O dễ tiêu, dung tích hấp thu (CEC) và sinh khối các bon vi sinh vật. Phân tích tương quan Pearson và phân tích thành phần chính (PCA) được sử dụng để đánh giá mối liên hệ giữa các chỉ tiêu và lựa chọn bộ chỉ tiêu tối thiểu. Kết quả cho thấy, ba chỉ tiêu đại diện gồm cát, OC và pH<sub>KCl</sub> (tương ứng với ba thành phần chính) được chọn để xây dựng SQI. Giá trị SQI của các lâm phần dao động từ 0,41 - 0,86, với giá trị trung bình 0,53, cho thấy đất dưới rừng trồng Thông nhựa ở vùng Bắc Trung bộ nhìn chung đạt mức chất lượng cao. Kết quả này có thể được áp dụng để hỗ trợ đánh giá nhanh và theo dõi biến động chất lượng đất rừng trồng theo thời gian, đồng thời cung cấp cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp quản lý đất bền vững.</em></p>2026-01-31T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/vea/article/view/133899Đánh giá khả năng kháng khuẩn của màng polypropylene phủ graphene oxide (PP/GO)2026-03-10T09:58:32+07:00Phạm Thị Phương Duyêntapchimoitruong@isponre.gov.vnNguyễn Văn Phướctapchimoitruong@isponre.gov.vn<p> Màng Polypropylene (PP) được phủ Graphene oxide (GO) nhằm tăng khả năng kháng khuẩn và giảm bám cặn trên bề mặt màng trong quá trình lọc nước sinh hoạt. GO được tổng hợp bằng phương pháp Hummers cải tiến và phủ lên màng PP đã được xử lý bằng tia UV để tăng độ bám dính. Kết quả cho thấy, GO phân bố đồng đều trên bề mặt màng. Thử nghiệm kháng khuẩn bằng phương pháp đĩa thạch cho thấy màng PP/GO tạo vùng ức chế rõ rệt với đường kính 15,0 mm đối với <em>E. coli</em> và 15,3 mm đối với <em>Salmonella sp.</em>, chứng minh lớp phủ GO giúp tăng khả năng loại bỏ vi khuẩn trong nước và hạn chế hiện tượng bám cặn trên bể mặt màng một cách hiệu quả. Đáng chú ý, hiện tượng bám cặn (fouling) là nguyên nhân chính làm giảm thông lượng và tuổi thọ của màng polymer trong xử lý nước [1] [2]. Kết quả nghiên cứu này cho thấy, màng PP/GO không chỉ có khả năng kháng khuẩn hiệu quả mà còn cải thiện rõ rệt khả năng chống bám cặn sinh học, hứa hẹn ứng dụng thực tiễn cao trong lọc nước quy mô hộ gia đình.</p>2026-01-31T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/vea/article/view/133901Giải pháp giảm phát thải trong quy trình chế biến bột khoai mỡ trắng mộng linh (Dioscorea alata l.) hướng tới nông nghiệp xanh2026-03-10T10:01:34+07:00Nguyễn Lữ Phươngtapchimoitruong@isponre.gov.vnNguyễn Huy Hoàng, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Danh Ngôn, Lưu Thị Vân Hà, Trương Thành Phúc, Đặng Xuân Cường, Huỳnh Thị Ngọc Hân, Nguyễn Xuân Hoàntapchimoitruong@isponre.gov.vn<p> Nghiên cứu này tập trung ứng dụng sản xuất sạch hơn cho bột khoai mỡ Mộng Linh. Nghiên cứu đã trực tiếp khảo sát các lò làm bột truyền thống để làm rõ hiện trạng môi trường (từ lượng nước thải, rác hữu cơ đến điện năng tiêu thụ). Kết quả cho thấy, cách làm của quy trình cũ gây lãng phí lớn, thất thoát nguyên liệu và tiêu tốn nhiều năng lượng. Để khắc phục, nhóm đã thử nghiệm mô hình cải tiến bằng cách: tận dụng triệt để phụ phẩm, tối ưu nguồn nước, dùng máy sấy tiết kiệm điện và thay hóa chất bằng các phương pháp sinh học an toàn. Các giải pháp như tối ưu hóa sử dụng nước, tái sử dụng phụ phẩm, ứng dụng sấy tiết kiệm năng lượng và thay thế hóa chất bằng xử lý sinh học đã giảm đáng kể TSS, COD, BOD<sub>5</sub>, lượng chất thải hữu cơ và CO₂ tương đương, đồng thời nâng cao chất lượng bột. Nghiên cứu khuyến nghị nhân rộng mô hình sản xuất sạch hơn cho các cơ sở quy mô nhỏ và vừa.</p>2026-01-31T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/vea/article/view/133902Nông nghiệp Việt Nam: Từ “trụ đỡ” an sinh đến “bệ phóng” phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới2026-03-10T10:04:17+07:00Trần Đức Viêntapchimoitruong@isponre.gov.vn<p> Năm 2025 đã khép lại với những con số ấn tượng về kinh tế - xã hội của đất nước, cũng là năm đánh dấu một cột mốc lịch sử với riêng ngành nông nghiệp và môi trường (NN&MT) bằng những kỷ lục chưa từng có về xuất khẩu và sự chuyển mình mạnh mẽ trong cơ cấu ngành hàng nông sản chủ lực. Đây cũng là dịp để chúng ta nhìn lại chặng đường phát triển của ngành trong 5 năm qua để định hình cho bước phát triển tiếp theo dưới ánh sáng soi đường của Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIV về “Tam nông”.</p>2026-01-31T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/vea/article/view/133903Từ cam kết khí hậu đến hành động trong lĩnh vực trồng trọt: Kế hoạch cho giai đoạn 2025 - 2035, tầm nhìn đến năm 20502026-03-10T10:05:51+07:00Nguyễn Thị Thu Hươngtapchimoitruong@isponre.gov.vn<p> Trong bối cảnh Việt Nam cam kết mạnh mẽ tại COP26 về đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, đồng thời triển khai Chiến lược Tăng trưởng xanh, Chiến lược Phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021 - 2030, yêu cầu đặt ra đối với lĩnh vực trồng trọt không chỉ là duy trì tăng trưởng và bảo đảm an ninh lương thực, mà còn phải chuyển đổi phương thức sản xuất theo hướng phát thải thấp (PTT), thích ứng với BĐKH và có khả năng tham gia vào thị trường các-bon. Trên cơ sở đó, Đề án “Sản xuất giảm phát thải (GPT) lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025 - 2035, tầm nhìn đến năm 2050” đã được phê duyệt và tiếp theo là Kế hoạch hành động (KHHĐ) của Bộ NN&MT nhằm cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của Đề án thành các chương trình, hoạt động có lộ trình, được phân công trách nhiệm và có cơ chế triển khai rõ ràng.</p>2026-01-31T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/vea/article/view/133904Góc nhìn chuyển đổi số trong phát triển nông thôn hiện đại2026-03-10T10:07:15+07:00Đặng Duy Hiểntapchimoitruong@isponre.gov.vn<p> Nghị quyết số 19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã khẳng định rõ định hướng: “Xây dựng nông thôn hiện đại, phồn vinh, hạnh phúc, dân chủ, văn minh; có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ; môi trường xanh, sạch, đẹp; đời sống văn hóa lành mạnh, phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc; an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm.” Việc xác định nội hàm và tiêu chí cho nông thôn hiện đại giai đoạn 2026 - 2035 không phải là một bài toán độc lập, mà phải được đặt trong tổng thể các định hướng chiến lược quốc gia. Trong đó, chuyển đổi số không chỉ là một lựa chọn, mà là công cụ thực thi tất yếu.</p>2026-01-31T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/vea/article/view/133906Hệ lụy của lãng phí thực phẩm và hàm ý chính sách cho Việt Nam2026-03-10T10:08:55+07:00Hoàng Nhất Thốngtapchimoitruong@isponre.gov.vn<p> Lãng phí thực phẩm cùng với thất thoát thực phẩm đang là những vấn đề toàn cầu. Lãng phí thực phẩm tạo ra hệ lụy to lớn đối với kinh tế, xã hội và môi trường. Hiện nay nhiều nước đã quan tâm đến việc giảm thiểu lãng phí thực phẩm thông qua thể chế chính sách, pháp luật và các hành động cụ thể. Trong xu thế chung đó, Việt Nam cần thiết ban hành và tổ chức thực thi các chính sách giảm thiểu lãng phí thực phẩm nhằm giải quyết những hệ lụy về kinh tế, xã hội, môi trường mà sự lãng phí đó gây ra.</p>2026-01-31T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/vea/article/view/135545Tư pháp hóa quyền môi trường: Từ chuẩn mực chính sách đến cơ chế bảo vệ quyền con người2026-03-20T10:07:03+07:00Lê Thị Anh Xuântapchimoitruong@isponre.gov.vn<p> Việc tổng hợp và phân tích thực tiễn xét xử về quyền được sống trong môi trường trong lành trong giai đoạn 2015–2025 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Báo cáo Quyền được sống trong môi trường trong lành trong thực tiễn xét xử: Mười năm nhìn từ các phán quyết tư pháp (2015–2025) do Chương trình Môi trường Liên hợp quốc công bố đã hệ thống hóa hơn một thập kỷ phát triển án lệ về quyền môi trường trong lành tại nhiều cấp tài phán khác nhau, từ quốc gia đến khu vực và quốc tế. Thay vì tiếp cận quyền môi trường như một khái niệm trừu tượng, các phán quyết được tổng hợp trong giai đoạn này phản ánh cách thức quyền được cụ thể hóa và vận hành trong thực tiễn xét xử.</p>2026-01-31T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/vea/article/view/135550Đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện khung pháp lýcho thị trường các-bon ở Việt Nam: Bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc2026-03-20T10:09:18+07:00Đào Trọng Đứctapchimoitruong@isponre.gov.vnNguyễn Văn Thànhtapchimoitruong@isponre.gov.vn<p> Trong bối cảnh biến đổi khí hậu (BĐKH) đang trở thành thách thức toàn cầu, đòi hỏi hành động cấp bách và hiệu quả từ mọi quốc gia, thị trường tín chỉ các-bon được xem như một công cụ kinh tế trọng yếu giúp giảm phát thải (GPT), hướng tới mục tiêu phát triển bền vững (PTBV). Trên thế giới, thị trường tín chỉ các-bon bắt nguồn từ Nghị định thư Kyoto năm 1997, là cơ chế “giới hạn và giao dịch” cho phép các chủ thể trao đổi quyền phát thải trong giới hạn. Đây là công cụ định giá các-bon dựa trên nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”, thúc đẩy GPT để tiết kiệm chi phí cho xã hội. Cơ chế này đã được nhiều quốc gia phát triển áp dụng thành công, trong đó Trung Quốc là ví dụ điển hình với Hệ thống giao dịch phát thải (ETS) lớn nhất thế giới, giúp giảm thiểu lượng lớn khí nhà kính (KNK), đồng thời duy trì tăng trưởng kinh tế. Với cam kết đưa phát thải ròng về 0 vào năm 2050, Việt Nam đang trong giai đoạn đầu xây dựng thị trường tín chỉ các-bon, do đó, việc học hỏi kinh nghiệm từ các mô hình tiên tiến như Trung Quốc là một trong những bước đệm quan trọng.</p>2026-01-31T00:00:00+07:00Bản quyền (c)