Mối liên quan giữa mức độ sao chép gen KIAA1199 với một số đặc điểm lâm sàng, giải phẫu bệnh của người bệnh ung thư đại trực tràng tại Bệnh viện đa khoa Đức Giang năm 2022-2023

  • Phương Phạm Thị Thu
  • Phương Trần Thị Thu
  • Thu Lê Văn
  • Lăng Ngô Văn
  • Thoa Nguyễn Phương
  • Nguyệt Đào Thị
  • Lợi Nguyễn Thuận
  • Quân Dương Hồng

Abstract

Mục tiêu: Nghiên cứu tiến hành nhằm xác định mức độ sao chép gen KIAA1199 ở mẫu mô đúc nến của người bệnh ung thư đại trực tràng (UTĐTT) và đánh giá mối liên quan giữa mức độ sao chép gen KIAA1199 với một số triệu chứng lâm sàng, giải phẫu bệnh của người bệnh UTĐTT tại Bệnh viện đa khoa Đức Giang năm 2022-2023.

Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu cắt ngang trên 40 mẫu mô đúc nến và 40 hồ sơ bệnh án tương ứng của người bệnh UTĐTT được chẩn đoán và điều trị tại bệnh viện đa khoa Đức Giang năm 2022-2023.

Kết quả: 26/40 mẫu (65,0%) được xử lý đạt yêu cầu về chất lượng tách RNA để đánh giá mức độ sao chép gen KIAA1199. Hơn thế nữa, 20/26 mẫu (76,9%) có mức độ sao chép gen KIAA1199 ở vùng mô u tăng mạnh hơn vùng mô lành và có mối liên quan có ý nghĩa thống kê về tăng mức độ sao chép gen KIAA1199 với mức độ biệt hóa mô, thể loại u ở người bệnh UTĐTT (p<0,05); Trong đó, người bệnh thể u sùi có tăng mức độ sao chép gen KIAA1199 cao gấp 11,3 lần so với người bệnh mắc các thể u khác (p<0,05). Tuy nhiên, không đánh giá được mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa mức độ sao chép gen KIAA1199 với một số đặc điểm mô bệnh học về vị trí u, số lượng u, típ mô bệnh học, mức độ xâm lấn thanh mạc, di căn hạch, giai đoạn bệnh phân loại theo TNM (p>0,05).

Kết luận: Mức độ sao chép gen KIAA1199 ở vùng mô u tăng mạnh hơn vùng mô lành và đánh giá được mối liên quan có ý nghĩa thống kê về tăng mức độ sao chép gen KIAA1199 với mức độ biệt hóa mô, thể loại u ở người bệnh UTĐTT (p<0,05).

điểm /   đánh giá
Published
2023-12-29