TÍNH DÂN TỘC VÀ ĐẠI CHÚNG CỦA CÁC TỪ NGỮ DÙNG TRONG GIAO THÔNG ĐƯỜNG THỦY NỘI ĐỊA

  • Nguyễn Thị Hải Hà

Tóm tắt

 Bài viết này chỉ giới hạn khảo sát các từ ngữ giao thông đường thủy nội địa (đường sông, gọi tắt là giao thông nội thủy) từ góc độ tính dân tộc và đại chúng, gồm: 1/ Từ đơn (từ do một hình vị tạo nên, và từ đơn có thể là một âm tiết, cũng có thể nhiều âm tiết); 2/ Ngữ cố định (cụm từ có kết cấu chặt chẽ, khó có thể chêm xen mà không thay đổi về nghĩa).


Từ đơn trong giao thông nội thủy (GTNT) thuộc hai trường từ vựng lớn là trường tên gọi, cấu tạo và hoạt động của các phương tiện giao thông đường thủy nội địa; trường các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng đến giao thông đường thủy nội địa (địa hình, thủy văn...) là những đơn vị được sử dụng rộng rãi trong ngôn ngữ toàn dân.

Ngữ cố định tuy không có số lượng lớn so với từ đơn, nhưng đã góp phần thể hiện tính đại chúng, tính dân tộc của ngôn ngữ GTNT trong ngôn ngữ toàn dân. Có đến 10/13 ngữ cố định của ngôn ngữ GTNT được người Việt sử dụng phổ biến trong những tình huống khác nhau: khi giao tiếp hàng ngày, khi răn dạy con cái… Qua các ngữ cố định này, đất nước và con người Việt Nam được thể hiện khá rõ với những hình ảnh dòng sông, bến nước, con đò. Những dòng sông có thác, có ghềnh, có bên bồi, bên lở; con người phải gánh vác trách nhiệm của mình khi “đứng mũi chịu sào”; cách ăn nói thì phải “đầu sông ngọn nguồn”, v.v…

điểm /   đánh giá
Phát hành ngày
2015-09-23
Chuyên mục
BÀI BÁO