ỨNG DỤNG CỦA FDG PET/CT TRONG KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH UNG THƯ THỰC QUẢN

  • Nguyễn Đình Hùng
  • Ngô Văn Tấn
  • Trần Minh Hoàng
  • Nguyễn Xuân Cảnh
Từ khóa: PET/CT, FDG, ung thư thực quản.

Tóm tắt

Đặt vấn đề: PET/CT là một phương tiện hữu hiệu trong chẩn đoán và theo dõi ung thư thực quản (UTTQ). Nghiên cứu này nhằm khảo sát đặc điểm của các tổn thương nguyên phát, di căn hạch vùng và di căn xa trên hình ảnh FDG PET/CT và phân tích mối tương quan giữa các chỉ số hoạt động chuyển hóa với khả năng xâm lấn cũng như di căn của UTTQ.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu mô tả những bệnh nhân UTTQ nguyên phát chưa điều trị đặc hiệu được ghi hình FDG PET/CT nhằm khảo sát đặc điểm hình ảnh các tổn thương và đánh giá tương quan giữa hoạt động chuyển hóa tổn thương nguyên phát thực quản với khả năng xâm lấn và di căn.
Kết quả: PET/CT phát hiện được tất cả 76 tổn thương nguyên phát thực quản trong 69 bệnh nhân, thường gặp nhất là thực quản ngực đoạn 1/3 giữa (38,2%) và ít nhất ở thực quản đoạn bụng (2,6%). 14/76 tổn thương nguyên phát đã xâm lấn cơ quan lân cận, thường gặp nhất là xâm lấn khí quản (6,6%), động mạch chủ ngực (5,3%) và xâm lấn phổi (3,9%). Giá trị của các chỉ số hoạt động chuyển hóa tổn thương thực quản maxSUV=16,1±7,5; peakSUV=12,6±6,1; meanSUV=6,5±2,6; TLG=288,2±326,1; MTV= 41,1±41,6. Có 54/69 bệnh nhân đã di căn hạch vùng (78,3%), trong đó thường gặp nhất là các nhóm hạch cạnh phải khí quản đoạn cao (10%), cạnh thực quản đoạn ngực trên (8,5%) và đoạn ngực giữa (8,5%). Giá trị đại diện cho chỉ số hoạt động chuyển hóa glucose
của hạch vùng di căn là maxSUV=9,9±5,9. PET/CT phát hiện 23/69 bệnh nhân (33,3%) có tổn thương di căn xa, thường gặp nhất là di căn hạch xa (15,9%) và di căn xương (11,6%). Có 3 trường hợp (4,3%) bệnh nhân di căn đồng thời 2 cơ quan. Thể tích khối u chuyển hóa MTV có tương quan đến khả năng xâm lấn cơ quan lân cận (p<0,05) với ngưỡng cắt tối ưu MTV≥36,68 cm3 (độ nhạy 71%, độ đặc hiệu 71%, AUC=0,73). Ngoài ra, ngưỡng cắt tổng lượng khối u chuyển hóa TLG≥132,26 (độ nhạy 71%, độ đặc hiệu 76%, AUC=0,71) và thể tích khối u chuyển hóa MTV≥17,47 cm3 (độ nhạy 78%, độ đặc hiệu 65%, AUC=0,71) của tổn thương thực quản nguyên phát tương quan có ý nghĩa với khả năng di căn hạch vùng (p<0,05).
Kết luận: Tổn thương ung thư thực quản thường biểu hiện tăng hoạt động chuyển hóa trên hình ảnh FDG PET/CT. PET/CT có vai trò trong chẩn đoán vị trí tổn thương nguyên phát và các tổn thương di căn. Thể tích khối u chuyển hóa (MTV) và tổng lượng khối u chuyển hóa (TLG) tương quan với khả năng xâm lấn của tổn thương nguyên phát và khả năng di căn hạch vùng nhiều hơn các giá trị hấp thu chuẩn (SUV).

điểm /   đánh giá
Phát hành ngày
2024-11-30
Chuyên mục
Bài viết