NHẬN XÉT SỰ AN TOÀN CỦA DẪN LƯU BỂ THẬN QUA DA DƯỚI HƯỚNG DẪN CỦA SIÊU ÂM VÀ DSA Ở BỆNH NHÂN TẮC NGHẼN ĐƯỜNG BÀI XUẤT CAO

  • Nguyễn Đăng Sơn
  • Lê Tuấn Linh
  • Nguyễn Anh Tuấn
Từ khóa: Ứ nước, ứ mủ bể thận, dẫn lưu bể thận qua da.

Tóm tắt

Mục tiêu: đánh giá sự an toàn và tỉ lệ biến chứng của dẫn lưu bể thận qua da dưới hướng dẫn của siêu âm và DSA ở bệnh nhân tắc nghẽn đường bài xuất cao. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 45 bệnh nhân ứ nước, ứ mủ thận do tắc nghẽn đường bài xuất cao tại Trung tâm chẩn đoán hình ảnh và can thiệp điện quang - Bệnh viện Đại học Y Hà Nôi. Kết quả: 100% bệnh nhân ứ nước, ứ mủ thận đều được sử dụng kháng sinh phổ rộng truyền tĩnh mạch trước khi tiến hành dẫn lưu bể thận qua da để dự phòng. Vị trí đưa dẫn lưu vào bể thận: 93,3% từ cực dưới, 6,7% từ cực giữa. 91,1% bệnh nhân được dẫn lưu bể thận qua da thành công từ lần đầu tiên, 8,9% bệnh nhân phải thực hiện lần thứ hai. Tỷ lệ thành công của kĩ thuật này là 100%. Thời gian hoàn thành thủ thuật 19,5 ± 4,5 phút. Biến chứng chảy máu chiếm tỉ lệ 2,2% (n=1), nhiễm khuẩn huyết 6,7% (n=3), tắc ống thông 18% (n=8). Sonde dẫn lưu 8F được sử dụng cho các bệnh nhân ứ nước, mủ thận độ I, II và sonde dẫn lưu 10-12F được sử dụng cho các bệnh nhân ứ nước, mủ thận độ III, IV. Kết luận: Dẫn lưu bể thận qua da là phương pháp xâm lấn tối thiểu, an toàn và hiệu quản cao.

điểm /   đánh giá
Phát hành ngày
2024-03-04
Chuyên mục
Bài viết