Quy định về bài viết

Quy định về cấu trúc và trình bày của bài báo


I. KẾT CẤU VÀ CÁC THÀNH PHẦN NỘI DUNG CỦA BÀI BÁO

1. Tên bài báo (Title)

Tên bài viết Tiếng Việt có độ dài vừa phải, thường từ 10 - 15 từ, phản ánh trực tiếp nội dung của bài báo. Tên bài báo phải viết chữ in hoa, cỡ chữ 14, in đậm, căn giữa trang. Tên bài báo bằng Tiếng Anh (Title): chữ in hoa, cỡ chữ 14, in đậm và căn giữa trang.

2. Tên tác giả và đơn vị công tác

- Tên tác giả (in đậm, căn lề bên trái, cỡ chữ 11),

- Đơn vị công tác (Tiếng Việt và tiếng Anh, căn lề bên trái, cỡ chữ 10,5).

- Địa chỉ email của tác giả (in nghiêng, căn lề bên trái, cỡ chữ 10,5)

3. Cấu trúc và nội dung chính bài báo
Cấu trúc của bài báo/công trình công bố gồm 10 phần: 1. Tên bài viết; 2. Tóm tắt bài viết; 3. Từ khóa; 4. Giới thiệu hoặc đặt vấn đề và mục tiêu nghiên cứu; 5. Tổng quan nghiên cứu; 6. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu; 7. Kết quả nghiên cứu; 8. Bàn luận; 9. Kết luận hoặc (và) khuyến nghị; 10. Tài liệu tham khảo.

3.1. Tên bài viết (Title)

Tên bài viết (gồm cả tiếng Anh và tiếng Việt) cần phải ngắn gọn (không quá 15 từ), rõ ràng và phải phản ánh nội dung chính của bài viết.

3.2. Tóm tắt bài viết (Abstract)

Phần tóm tắt phải viết ngắn gọn thành một đoạn văn (tối đa 250 từ), phản ánh khái quát những nội dung chính trong bài viết và thể hiện rõ những kết quả, đóng góp, điểm mới của bài viết.

Đối với các bài viết tiếng Việt, tác giả cần cung cấp thêm tên bài và phần tóm tắt (bao gồm cả từ khóa) dịch sang tiếng Anh và được trình bày ngay dưới phần tóm tắt tiếng Việt. Đối với các bài viết tiếng Anh, tác giả cần cung cấp thêm tên bài và phần tóm tắt (bao gồm cả từ khóa) dịch sang tiếng Việt và được trình bày ngay dưới phần tóm tắt tiếng Anh.
Tóm tắt bằng Tiếng Việt và Tiếng Anh đều có cỡ chữ 10,5, cách dòng 11pt chữ thường và in nghiêng, căn đều hai bên. 

3.3. Từ khóa (Keywords)

Từ khóa là những từ được cho là quan trọng đối với nội dung nghiên cứu và thể hiện đặc trưng cho chủ đề của bài viết đó. Cụm “Từ khóa” viết thường đậm. Tác giả cần đưa ra 3 đến 5 từ khóa hoặc cụm từ khoá của bài viết theo thứ tự alphabet, giữa 2 từ khóa dùng dấu (;), viết hoa chữ cái đầu tiên của từ khóa hoặc cụm từ khóa.

3.4. Giới thiệu hoặc đặt vấn đề và mục tiêu, đối tượng nghiên cứu (Introduction)

Phần giới thiệu (hoặc đặt vấn đề) cần thể hiện:

- Lý do thực hiện nghiên cứu này và tầm quan trọng của chủ đề nghiên cứu (có ý nghĩa như thế nào về mặt lý luận và thực tiễn);

- Xác định vấn đề nghiên cứu;

- Xác định mục tiêu nghiên cứu mà bài viết sẽ tập trung giải quyết.

3.5 Tổng quan nghiên cứu (Research overview)

Nội dung phần này cần:

Trình bày rõ tổng quan nghiên cứu (đã có những công trình nghiên cứu nào nghiên cứu trực tiếp hoặc liên quan tới vấn đề đã lựa chọn?) và cơ sở lý thuyết liên quan.

3.6. Phương pháp nghiên cứu (Research methods)

Nội dung phần này cần:

- Trình bày khung lý thuyết hoặc khung phân tích sử dụng trong bài viết;

- Tác giả có thể lựa chọn phương pháp nghiên cứu định tính hoặc định lượng, hoặc cả hai tùy theo cách tiếp cận mà mình lựa chọn, trong đó cần thể hiện mô hình và các giả thuyết nghiên cứu (nghiên cứu định lượng) và/hoặc thiết kế nghiên cứu định tính, cũng như các phương pháp thu thập dữ liệu.

3.7. Kết quả nghiên cứu (Research methods)

Phần này cần:

- Diễn giải, phân tích các kết quả phát hiện mới;

- Rút ra mối quan hệ chung, mối liên hệ giữa kết quả nghiên cứu của tác giả với những phát hiện khác trong các nghiên cứu trước đó;

- Đối với một số dạng bài viết mang tính chất tư vấn, phản biện chính sách, ý kiến chuyên gia... phần này có thể chỉ tập trung vào đánh giá thực trạng vấn đề nghiên cứu (đánh giá thành tựu, hạn chế và nguyên nhân...);

3.8. Bàn luận (Discussion)

Ý kiến của tác giả bàn luận về kết quả nghiên cứu trên, những vấn đề đặt ra và định hướng cho những nghiên cứu tiếp theo.

3.9. Kết luận hoặc (và) khuyến nghị giải pháp (Conclusions or/and policy implications)

Tùy theo mục tiêu nghiên cứu, các bài viết cần có kết luận và đưa ra giải pháp hay khuyến nghị cho các nhà quản lý doanh nghiệp và/hoặc các nhà hoạch định chính sách xuất phát từ kết quả nghiên cứu.

3.10. Tài liệu tham khảo (Reference)

Tác giả chỉ liệt kê các tài liệu đã trích dẫn trong bài viết. Sử dụng phần mềm Mendeley Desktop theo định dạng APA, khi sắp xếp Tài liệu tham khảo.

_________________________________________________

Trên đây là các thành phần và cách trình bày chuẩn của một bài báo khoa học. Bài viết gửi đăng tạp chí bắt buộc phải có đủ 10 thành phần. Các bài báo dạng thông tin thì không bắt buộc theo đủ các thành phần trên.

II. CÁC QUY ĐỊNH KỸ THUẬT TRÌNH BÀY

1. Qui định về cỡ chữ, phông chữ

Khi tác giả gửi bài đăng trên Tạp chí thì phải gửi mỗi bài 02 bản: Bản cứng gửi về địa chỉ: Tạp chí Nghiên cứu Khoa học và phát triển, Trường Đại học Thành Đô, Kim Chung, Hoài Đức, Hà Nội; file điện tử (dạng .doc/docx) được gửi theo địa chỉ: journal@thanhdouni.edu.vn. Bài báo có độ dài từ 3.500 từ - 7.000 từ được đánh máy trên khổ giấy A4, cỡ chữ 10,5, cách dòng 11pt, kiểu chữ Times New Roman. Lề (page setup) của trang báo được định dạng như sau: Trên, dưới là 2,5 cm và trái, phải là 2 cm. Phần đánh máy phải nằm trong khuôn là 25,7 cm × 17 cm kể cả tên bài báo và số trang. Phần nội dung chính của bài báo được dàn thành hai cột đến kết thúc bài báo.

2. Quy định đánh số đề mục

Trong phần nội dung chính của bài viết, các đề mục lớn phải là chữ đậm và được đánh số liên tục theo chữ số A-rập (ví dụ: 2). Các tiểu mục cấp 1 (ví dụ: 2.1) là chữ đậm, in nghiêng, và các tiểu mục cấp 2 (ví dụ: 2.1.1) là chữ in nghiêng không in đậm.

3. Quy định viết các công thức

- Công thức toán học

Công thức toán học được đánh máy bằng chương trình Equation Editor. Các ký hiệu công thức được đánh liên tục từ (1) đến (n) cho toàn bộ bài báo; và các chú thích công thức được đặt ở bên phải của trang, hay cột.

- Công thức hóa học

Công thức hóa học được vẽ bằng chương trình ChemDraw hoặc ChemWin 5.1 và công thức hóa học cũng được đánh liên tục từ 1 đến n, chữ đậm cho toàn bộ bài báo.

4. Quy định trình bày bảng biểu, hình vẽ

Các bảng dữ liệu trình bày trong bài viết được ghi thống nhất là Bảng. Các bảng dữ liệu phải là định dạng bảng (table) trong phần mềm Microsoft Word.

Các đồ thị, biểu đồ, sơ đồ trong bài được ghi thống nhất là Hình. Các đồ thị/biểu đồ được xây dựng từ phần mềm Microsoft Excel thì tác giả cần gửi kèm file gốc excel của đồ thị/biểu đồ đó. Với các hình được làm bằng các chương trình đồ họa (Corel Draw, Adobe Photoshop...) thì tác giả đính kèm file gốc. Với các hình dạng ảnh (photo), yêu cầu là file JPEG, TIF có độ phân giải không dưới 300 dpi.

Các bảng, biểu, đồ thị và hình vẽ nên được trình bày đen trắng.

Các bảng và hình trong bài viết phải được đánh số riêng biệt và theo thứ tự liên tục bằng chữ số Ả-rập, số thứ tự được đặt sau từ “Bảng” hoặc “Hình” (ví dụ: Bảng 1, Bảng 2, Hình 1, Hình 2). Mỗi bảng/hình cần phải có tên tương ứng mô tả chính xác nội dung của bảng/hình. Số thứ tự và tên bảng /hình được đặt ở vị trí phía trên cùng của bảng/hình đó theo phương chiều ngang, chữ in đậm.

Các bảng/hình trong bài viết phải được viện dẫn nguồn. Nguồn được đặt dưới cùng của bảng/hình, chữ trình bày in nghiêng không đậm.

Các ghi chú cũng cần được đưa vào để giải thích thêm cho bảng/hình trong trường hợp cần thiết.

Tất cả hình, bảng và các sơ đồ được đặt đúng vị trí của bài báo để người đọc tiện theo dõi; và cần thống nhất cỡ chữ cho toàn hình, bảng và sơ đồ.

Tác giả chịu trách nhiệm về việc sử dụng nguồn tài liệu, các bảng, hình vẽ, trích dẫn dùng trong bài báo. Điều này áp dụng cả với những hình vẽ hoặc bảng là kết quả của việc sử dụng dữ liệu từ nguồn khác.

5. Quy định trình bày trích dẫn và danh mục tài liệu tham khảo

Trích dẫn tài liệu tham khảo là một yêu cầu bắt buộc đối với các nghiên cứu. Việc thể hiện các trích dẫn tài liệu tham khảo có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá độ chuyên sâu và tính nghiêm túc của nghiên cứu. Vì vậy, trích dẫn tài liệu tham khảo phải được trình bày đúng quy chuẩn.

Trích dẫn tài liệu tham khảo được chia làm 2 dạng chính: trích dẫn trong bài (in- text reference) và danh mục tài liệu tham khảo (reference list).

Danh mục tài liệu tham khảo được đặt cuối cùng bài viết, mỗi trích dẫn trong bài viết (in-text reference) nhất thiết phải tương ứng với danh mục nguồn tài liệu được liệt kê trong danh sách tài liệu tham khảo.

5.1. Trích dẫn trong bài (in-text reference), bao gồm các thông tin sau:

- Họ tên tác giả/tổ chức;

- Năm xuất bản tài liệu;

- Trang tài liệu trích dẫn (đối với trích dẫn nguyên văn).

Các hình thức trích dẫn:

- Trích dẫn trực tiếp: là cách thức trích nguyên văn một hoặc nhiều đoạn được viết trong nội dung của tài liệu tham khảo, kèm theo ghi chú nguồn tài liệu được trích dẫn. Nội dung trích dẫn được đặt trong dấu ngoặc kép. Tên tác giả, năm xuất bản, số trang được đặt trong dấu ngoặc đơn ở cuối câu.

Ví dụ: “Điều then chốt để hiểu kinh tế học vi mô là phải nhận biết tiêu điểm chính của nó là vai trò của các loại giá” (Gittin, 2006, trang 18).

- Trích dẫn gián tiếp: là việc sử dụng một cụm từ, ý tưởng, kết quả hoặc đại ý của một vấn đề để diễn tả theo ý của mình. Nội dung trích dẫn được viết bình thường. Tên tác giả, năm xuất bản được đặt trong dấu ngoặc đơn ở cuối câu.

Ví dụ: Việc tham khảo và trích dẫn các tài liệu đã được xuất bản là đặc trưng trong việc viết bài cho những đối tượng độc giả là những nhà chuyên môn học thuật (Cormack, 1994).

Nguyên tắc trích dẫn:

- Không ghi học hàm, học vị của tác giả có nội dung được trích dẫn.

- Tác giả là người Việt Nam: Ghi đầy đủ họ và tên của tác giả theo đúng trật tự tiếng Việt, ví dụ: Trần Văn Minh…

- Tác giả là người nước ngoài: Ghi họ của tác giả (theo cách viết tiếng Anh), ví dụ: Tác giả là Jame Tobin (1992) thì ghi Tobin (1992).

- Tác giả là một tập thể, nhiều người: Ghi tên của người đứng đầu và các cộng sự hoặc et al cho các đồng tác giả, ví dụ: Jones và các cộng sự (2003).

- Tác giả là một tổ chức: Nếu tổ chức có tên viết tắt phổ biến nhiều người biết đến thì sử dụng tên viết tắt. Nếu không thì ghi đầy đủ tên của tổ chức đó.

5.2. Danh mục tài liệu tham khảo (Reference)

Danh mục tài liệu tham khảo được đặt cuối bài viết, được bắt đầu bằng tiêu đề “Tài liệu tham khảo”. Sử dụng phần mềm Mendeley Desktop theo định dạng APA, khi sắp xếp Tài liệu tham khảo. Tài liệu tham khảo tiếng Việt không có dấu thanh. Chỉ liệt kê các tài liệu tham khảo được trích dẫn trong bài. Mỗi bài viết không quá 12 tài liệu tham khảo.

VD: Hoan, N. T., & Van, Đ. T. T (2019). Tu duy phan bien qua goc nhin cua mot so giang vien tieng Anh. Tap chi Giao duc, 456 (1), tr. 53-56.

6. Quy chuẩn cách viết cụm từ viết tắt, chữ viết hoa, định dạng ngày tháng, định dạng con số, ghi chú

6.1. Viết tắt

Từ ngữ, thuật ngữ, tên địa danh tiếng Việt không được phép viết tắt. Ví dụ: phải viết đầy đủ “Thành phố Hồ Chí Minh” chứ không viết “Tp HCM”.

Từ ngữ, thuật ngữ và tên tổ chức bằng tiếng Anh được phép viết tắt, bao gồm cả tổ chức của Việt Nam có tên tiếng Anh. Các từ viết tắt chỉ được sử dụng sau khi chúng được tác giả giới thiệu sau cụm từ đầy đủ ở lần xuất hiện đầu tiên trong bài viết. Ví dụ: World Bank (WB) hoặc Small and medium-sized enterprises (SMEs), Tổng cục Thống kê (GSO),...

Các đơn vị đo lường thông dụng cũng được sử dụng ngay mà không cần giới thiệu. Ví dụ: km, cm, m.

Lưu ý: Đối với các thuật ngữ hoặc tên tổ chức có từ tiếng Việt tương đương thì có thể dùng từ tiếng Việt ở lần xuất hiện đầu tiên, sau đó chú thích viết tắt. Ví dụ: Ngân hàng Thế giới (WB); Tổng sản phẩm quốc nội (GDP); vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI);...

6.2. Chữ viết hoa

Các trường hợp điển hình bao gồm (nhưng không giới hạn):

- Tên các cơ quan tổ chức;

- Tên các cá nhân;

- Tên các tổ chức hay thể chế được dùng trong cụm từ mà nó có vai trò là tính từ bổ nghĩa thì không viết hoa. Ví dụ: Kinh tế nhà nước (ở đây không viết hoa từ “nhà nước”).

6.3. Định dạng ngày tháng

- Định dạng ngày tháng tiếng Việt: ngày... tháng... năm.... Ví dụ: ngày 2 tháng 9 năm 1945 (không viết 2/9/1945);

- Định dạng ngày tháng tiếng Anh: tháng, ngày, năm (ví dụ: October, 3rd 2010).

6.4. Định dạng con số

Định dạng con số trong tiếng Việt: dấu phẩy (,) được biểu trưng cho nhóm dãy số thập phân; dấu chấm (.) biểu trưng cho phân nhóm các dãy số hàng đơn vị, hàng chục hàng trăm hàng nghìn...

Ví dụ: 200,233 đồng (được hiểu: 200 phẩy 233 đồng); 200.233 đồng (được hiểu: 200 nghìn 233 đồng).

Định dạng con số trong tiếng Anh: ngược lại với tiếng Việt: dấu phẩy (,) được biểu trưng cho phân nhóm các dãy số hàng đơn vị, hàng chục hàng trăm hàng nghìn...; Dấu chấm (.) biểu trưng cho cho nhóm dãy số thập phân.

6.5. Đơn vị đo lường

Sử dụng hệ metric phổ biến tại Việt Nam. Nếu tác giả sử dụng các đơn vị thuộc hệ khác thì cần quy đổi sang hệ metric. Ví dụ: Đoạn đường này dài 10 dặm (tương đương khoảng 16,l km).

6.6. Tên riêng

Tên riêng của cá nhân, tổ chức, quốc gia hay địa danh được viết theo chuẩn tiếng Anh, trừ trường hợp tên đó đã có cách phiên âm khác đang được dùng phổ biến. Ví dụ:

- Theo chuẩn tiếng Anh: Philippines, Malaysia, Myanmar,...

- Tên Hán - Việt: Pháp, Mỹ, Hoa Kỳ, Ẩn Độ, Luân Đôn, Bắc Kinh,...

- Phiên âm từ tiếng Nga: Gruzia (thay cho Georgia), Latvia (thay cho Lithuania)

6.7. Đơn vị tiền tệ

Viết đầy đủ tên đồng tiền bằng tiếng Việt ở lần xuất hiện đầu tiên, sau đó chú thích và viết tắt 3 chữ cái theo chuẩn quốc tế. Ví dụ: “Đồng Yên Nhật Bản (JPY) hôm nay tăng giá thêm 5%”, hoặc “Ngân hàng Nhà nước tiếp tục giảm giá đồng Việt Nam (VND) thêm 6%”.

6.8. Ghi chú (notes)

Các ghi chú được đặt cuối bài viết, trước danh mục Tài liệu tham khảo. Các ghi chú được đánh số theo thứ tự tăng dần (1, 2, 3,...) và tương ứng với số đánh ghi chú trong nội dung bài viết.

Các ghi chú phải ngắn gọn, chỉ sử dụng trong trường hợp thật cần thiết (diễn giải hoặc cung cấp thêm thông tin cho nội dung cần ghi chú). Lưu ý: Không sử dụng ghi chú cuối trang (footnote).

6.9. Tờ khai minh bạch sử dụng AI và cam kết dữ liệu gốc

Tác giả cần điền đầy đủ thông tin vào Tờ khai minh bạch sử dụng AI và cam kết dữ liệu gốc và nộp kèm bản thảo bài báo tới Tạp chí. Bản thảo hợp lệ là bản thảo có kèm theo Tờ khai minh bạch sử dụng AI và cam kết dữ liệu gốc.

Quy định về chuẩn mực đạo đức xuất bản và liêm chính học thuật

CHƯƠNG I: QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Mục đích và phạm vi áp dụng

1. Quy định này nhằm định hướng và duy trì các chuẩn mực đạo đức xuất bản, khuyến khích liêm chính học thuật, hỗ trợ kiểm soát đạo văn nhằm nâng cao chất lượng khoa học của Tạp chí Nghiên cứu Khoa học và Phát triển (JSRD).
2. Quy định áp dụng đối với các bên tham gia vào quy trình học thuật của Tạp chí, bao gồm: Tác giả, Biên tập viên, Chuyên gia phản biện và Hội đồng Biên tập trên tinh thần hợp tác, khách quan và xây dựng.
Điều 2. Các hành vi cần lưu ý trong công bố khoa học

1. Đạo văn (Plagiarism): Được hiểu là hành vi sử dụng ý tưởng, dữ liệu, kết quả nghiên cứu, nội dung, lời văn, hình ảnh, bảng biểu, mô hình hoặc cấu trúc lập luận của người khác hoặc của chính tác giả mà không trích dẫn, ghi nhận nguồn một cách rõ ràng và đầy đủ.
2. Công bố trùng lặp (Duplicate Publication): Là việc nộp đồng thời một bản thảo đến nhiều tạp chí khác nhau hoặc tái sử dụng phần lớn nghiên cứu cũ đã công bố để đăng lại như một nghiên cứu hoàn toàn mới mà không có sự mở rộng, phát triển nội dung một cách thỏa đáng.
3. Thiếu tính xác thực của dữ liệu: Là các sai sót hoặc hành vi tự tạo, điều chỉnh số liệu thực tế làm sai lệch bản chất và độ tin cậy của kết quả nghiên cứu.
CHƯƠNG II: CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC ĐỐI VỚI TÁC GIẢ

Điều 3. Trách nhiệm học thuật của Tác giả

1. Tác giả phải đảm bảo những kết quả nghiên cứu mới, trung thực, chưa từng được công bố và không gửi đồng thời cùng một bản thảo hoặc cùng một kết quả nghiên cứu đến tạp chí, hội thảo hoặc ấn phẩm khác trong thời gian Tạp chí đang xem xét.
2. Tác giả bài báo chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp, bản quyền, tính xác thực và tính liêm chính khoa học của bài báo.
3. Trong các nghiên cứu liên quan đến con người, dữ liệu cá nhân, cộng đồng, môi trường và các đối tượng dễ bị tổn thương, tác giả cần tuân thủ các nguyên tắc đạo đức nghiên cứu, bảo mật thông tin và đảm bảo sự đồng thuận tự nguyện của đối tượng tham gia khảo sát.
Điều 4. Nguyên tắc trích dẫn và tài liệu tham khảo

1. Tác giả phải trích dẫn rõ ràng, chính xác và đầy đủ những ý tưởng, kết quả nghiên cứu, dữ liệu, hình ảnh, bảng biểu, mô hình, phương pháp hoặc nội dung học thuật của các công trình nghiên cứu hoặc tài liệu của các tác giả khác đã được công bố trong và ngoài nước.
2. Tác giả nên ưu tiên trích dẫn nguồn gốc ban đầu; trường hợp sử dụng trích dẫn thứ cấp cần ghi rõ nguồn trung gian. Các tài liệu này phải được liệt kê đầy đủ trong phần “Tài liệu tham khảo”.
3. Tránh việc trích dẫn sai ngữ cảnh, thêm tài liệu chưa đọc hoặc không liên quan, cố ý bỏ qua tài liệu quan trọng có liên quan, hoặc thao túng trích dẫn nhằm làm sai lệch giá trị học thuật của bài báo.
Điều 5. Tính minh bạch của dữ liệu và xung đột lợi ích

1. Tác giả không được tạo dữ liệu giả, sửa đổi dữ liệu, loại bỏ dữ liệu, lựa chọn dữ liệu có chủ đích hoặc trình bày kết quả theo cách làm sai lệch bản chất nghiên cứu.
2. Khi có yêu cầu hợp lý từ Ban biên tập nhằm phục vụ khâu thẩm định, tác giả có trách nhiệm phối hợp cung cấp dữ liệu gốc, dữ liệu đã xử lý hoặc các minh chứng liên quan đến quy trình nghiên cứu.
3. Tác giả cần chia sẻ thông tin về các nguồn tài trợ, quan hệ hợp tác hoặc lợi ích có khả năng gây ra xung đột lợi ích trong bài báo. Các thông tin này (nếu có) nên được công khai rõ ràng khi gửi bài.
Điều 6. Xác định quyền đồng tác giả (Authorship)

1. Đồng tác giả xuất hiện trong bài báo phải là người thực sự tham gia vào quá trình hình thành ý tưởng, thiết kế nghiên cứu, thu thập dữ liệu, phân tích dữ liệu, viết bản thảo, chỉnh sửa học thuật hoặc phê duyệt bản thảo cuối cùng.
2. Người không có đóng góp thực chất không nên đứng tên tác giả; người có đóng góp thực chất không được bị loại khỏi danh sách tác giả.
3. Các đóng góp mang tính chất hỗ trợ thuần túy (thu thập tài liệu, dịch thuật, tài trợ kinh phí) chưa đủ điều kiện là tác giả cần được ghi nhận phù hợp trong phần lời cảm ơn hoặc phần đóng góp của tác giả.
Điều 7. Quy định khuyến khích sử dụng AI minh bạch

1. Công cụ trí tuệ nhân tạo (AI) không thể thay thế tư cách tác giả hoặc đồng tác giả của bài báo khoa học.
2. Trường hợp bài báo có sử dụng công cụ trí tuệ nhân tạo (như hỗ trợ sửa lỗi ngữ pháp, hiệu đính câu từ, biên dịch ngôn ngữ), tác giả cần khai báo rõ tên công cụ, phạm vi sử dụng và chịu trách nhiệm cuối cùng về tính chính xác của toàn bộ nội dung bài báo.
3. Tác giả cần kiểm chứng kỹ lưỡng các nội dung do AI hỗ trợ, tránh việc lạm dụng dẫn đến hệ quả xuất hiện dữ liệu giả, hình ảnh giả, kết quả nghiên cứu giả hoặc các tài liệu tham khảo không có thật.
CHƯƠNG III: ĐẠO ĐỨC VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA BIÊN TẬP VIÊN

Điều 8. Đánh giá chuyên môn và Bảo mật

1. Một trong những nhiệm vụ của biên tập viên là đánh giá chất lượng, tính mới, tính trung thực, tính phù hợp và giá trị đóng góp khoa học của các bài báo được gửi đến Ban biên tập. Việc đánh giá dựa trên giá trị đóng góp của bài báo, tính nhất quán của nội dung cùng các chính sách của Tạp chí.
2. Biên tập viên phải bảo mật thông tin cá nhân của tác giả và chuyên gia phản biện đối với những người không liên quan. Biên tập viên không được sử dụng dữ liệu, ý tưởng hoặc nội dung chưa công bố trong bản thảo cho mục đích cá nhân.
Điều 9. Quy trình kiểm tra trùng lặp và xử lý học thuật

1. Biên tập viên có nghĩa vụ kiểm tra đạo văn bằng cách sử dụng phần mềm đáng tin cậy để đảm bảo các bài báo không vi phạm quy tắc về đạo văn, tự đạo văn hoặc công bố trùng lặp.
2. Tạp chí áp dụng mức trần tỷ lệ trùng lặp nội dung là 20%.
- Nếu tỷ lệ trùng lặp vượt quá 20%, Biên tập viên liên hệ tác giả để yêu cầu giải trình, điều chỉnh trích dẫn hoặc từ chối bài viết tùy trường hợp.
- Nếu tỷ lệ trùng lặp dưới 20% nhưng có dấu hiệu sao chép ý tưởng, dữ liệu hoặc cấu trúc lập luận của người khác mà không trích dẫn, bài báo đó vẫn cần được xem xét lại.
3. Khi phát hiện các dấu hiệu vi phạm liêm chính khoa học, Biên tập viên sẽ tạm dừng quá trình thẩm định và trao đổi trực tiếp với tác giả để làm rõ. Nội dung giải thích của tác giả là cơ sở để đưa ra quyết định xử lý phù hợp (tiếp tục thẩm định, yêu cầu chỉnh sửa hoặc từ chối bài viết).
Điều 10. Tránh xung đột lợi ích Biên tập viên không tham gia xử lý các bài báo nếu có xung đột lợi ích hoặc có khả năng ảnh hưởng đến tính khách quan của quá trình xử lý bản thảo.

CHƯƠNG IV: ĐẠO ĐỨC VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA CHUYÊN GIA PHẢN BIỆN

Điều 11. Đánh giá khách quan và mang tính xây dựng

1. Chuyên gia phản biện chỉ nhận phản biện các bài viết thuộc lĩnh vực chuyên môn; đánh giá khách quan dựa trên giá trị nội dung, tính mới, độ tin cậy của dữ liệu và phương pháp nghiên cứu.
2. Ý kiến phản biện cần mang tính xây dựng, có cơ sở học thuật, không đánh giá dựa trên cảm tính cá nhân và không chứa nội dung gây tổn thương đối với tác giả.
Điều 12. Trách nhiệm bảo mật và đồng hành

1. Chuyên gia phản biện phải giữ bí mật về tất cả các dữ liệu, ý tưởng và nội dung học thuật trong bản thảo.
2. Chuyên gia phản biện hỗ trợ Tòa soạn bằng cách chỉ rõ tài liệu nào tác giả chưa trích dẫn phù hợp. Nếu phát hiện bài báo có dấu hiệu trùng lặp nội dung hoặc các biểu hiện chưa minh bạch khác, chuyên gia cần kịp thời thông báo cho Biên tập viên.
3. Chuyên gia phản biện có quyền từ chối phản biện nếu nhận thấy có xung đột lợi ích ảnh hưởng đến tính khách quan.
CHƯƠNG V: BIỆN PHÁP HỖ TRỢ VÀ XỬ LÝ SỰ CỐ

Điều 13. Quy trình hỗ trợ chỉnh sửa đối với bản thảo đang xét duyệt

1. Tạp chí JSRD hoạt động trên tinh thần đồng hành và khuyến khích các nhà nghiên cứu. Đối với các bài báo có sai sót về trích dẫn hoặc tỷ lệ trùng lặp do sơ suất kỹ thuật, Tòa soạn sẽ hướng dẫn chi tiết để tác giả chỉnh sửa, hoàn thiện bài viết.
2. Trường hợp tác giả lạm dụng AI hoặc có lỗi nghiêm trọng về dữ liệu nhưng chủ động phối hợp giải trình, Tòa soạn sẽ hỗ trợ rút bản thảo để hoàn thiện lại trước khi nộp lại vào thời điểm thích hợp.
Điều 14. Biện pháp xử lý đối với bài báo đã xuất bản (Hậu kiểm)

Khi có phản hồi hoặc phát hiện bài báo đã xuất bản có vi phạm nghiêm trọng về đạo đức nghiên cứu hoặc đạo văn, Tạp chí sẽ xử lý một cách văn minh, nội bộ và đúng chuẩn mực học thuật:

1. Ban biên tập sẽ tiến hành xác minh và làm việc với tác giả trên tinh thần cầu thị.
2. Tùy theo tính chất lỗi, Tạp chí sẽ phối hợp cùng tác giả để thực hiện việc cải chính, đính chính thông tin (đối với lỗi nhỏ, sơ suất).
3. Trường hợp bắt buộc phải rút bài báo (Retraction) do trùng lặp hoàn toàn hoặc dữ liệu không chính xác, Tòa soạn sẽ gỡ bài viết trên hệ thống điện tử và đăng thông báo đính chính ngắn gọn trên website của Tạp chí nhằm bảo vệ tính liêm chính của kho tàng tri thức.