Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng của cá bông lau giống (Pangasius krempfi Fang & Chaux, 1949) ương trong giai đặt trong ao đất tại tỉnh Bến Tre
Tóm tắt
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định mật độ ương cá bông lau giống phù hợp. Cá bông lau giống (chiều dài 46,0±7,0 mm và khối lượng 1,4±0,6 g) được thu gom từ các hộ khai thác cá giống và thả ngẫu nhiên trong các giai (60 m2) đặt trong ao đất (1.500 m2/ao) ở các mật độ 20, 30 và 40 con/m2, ứng với 3 nghiệm thức thí nghiệm, mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần. Trong suốt thời gian ương cá được cho ăn thức ăn công nghiệp 44-55% protein, 2 lần/ngày. Sau 35 ngày ương, kết quả cho thấy tốc độ tăng trưởng chiều dài cá ở các nghiệm thức lần lượt là 1,33±0,07 mm/ngày (1,99±0,06%/ngày); 1,30±0,09 mm/ngày (2,01±0,13%/ngày); 1,28±0,11 mm/ngày (1,94±0,09%/ngày) (p>0,05); và tốc độ tăng trưởng khối lượng tương ứng là 281,6±17,5 mg/ngày (5,84±0,12%/ngày), 257,9±30,6 mg/ngày (5,83±0,32%/ngày) và 242,6±52,9 mg/ngày (5,45±0,31%/ngày). Hệ số phân đàn về chiều dài và khối lượng ở các mật độ lần lượt là: 15,8±1,0% và 42,9±3,2% (20 con/m2); 17,6±2,8% và 49,1±8,4% (30 con/m2); 15,4±1,3% và 46,5±6,3% (40 con/m2). Tỷ lệ sống đạt được cao nhất ở mật độ 20 con/m2 là 91,0±4,0% khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) so với các mật độ còn lại, 30 con/m2 (55,1±7,5%) và 40 con/m2 (39,6±3,8%). Từ kết quả nghiên cứu có thể thấy, trong các mật độ thí nghiệm, mật độ ương cá bông lau giống phù hợp là 20 con/m2.